Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 08/2025/DS-ST

Ngày 25-6-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thanh Giản

Ông Đặng Kim Dũng

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-KDTM ngày 02 tháng 01 năm 2025 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 42/2025/QÐST- DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần M; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I đường D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Nguyên T - Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền 2594/2024/UQ- UQ-MARS.VPB ngày 19 tháng 11 năm 2024) và ông Nguyễn Nhật H - Chuyên viên xử lý nợ (Theo Văn bản ủy quyền 838/2025/UQ-MARS.VPB ngày 10 tháng 5 năm 2025); ông Bùi Nguyên T và ông Nguyễn Nhật H có mặt.

- Bị đơn: Ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1; cùng nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng; ông N và bà H1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (sau đây viết tắt là Ngân hàng) và vợ chồng ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 có ký theo các Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng sau:

Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 18-10-2022, số tiền vay: 800.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng; mục đích sử dụng vốn: Vay bổ sung vốn kinh doanh cây cảnh. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 12,5%/năm. Mức lãi suất này sẽ được cố định 01 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau thời gian cố định lãi suất này sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, mức điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được ngân hàng C (được niêm yết tại website:www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điề chỉnh cộng (+) biên độ 3.2%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng điện tử mang tên bà Đặng Thị H1 ký ngày 19-10-2022, số tiền vay: 140.000.000 đồng; mục đích vay: Phục vụ nhu cầu đời sống. Thời hạn vay: 24 tháng, lãi suất 25%, lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.

Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 15-12-2022, số tiền vay: 400.000.000 đồng; thời hạn vay 12 tháng; mục đích sử dụng vốn: Vay bổ sung vốn kinh doanh cây cảnh. Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 13 %/năm. Mức lãi suất này sẽ được cố định 01 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau thời gian cố định lãi suất này sẽ được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/1 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, mức điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được ngân hàng C (được niêm yết tại website:www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 3.7%/năm. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% mức lãi suất trong hạn, kể từ thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả lãi: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Đảm bảo cho các khoản vay trên ông Đoàn Kim N đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 96, diện tích 293,8 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 580729, số vào sổ cấp GCN: CS 02635 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08-10-2020 cho ông Đoàn Kim N. Tài sản bảo đảm nêu trên đã thế chấp tại Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số: 7060215 ngày 15-10-2022 công chứng số 19726/HĐTC/2022 ngày 15-10-2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 14-12-2022 công chứng số 22775/SĐBS/2022 ngày 14-12-2022.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đoàn Kim N bà Đặng Thị H1 đã trả được cho Ngân hàng tổng số tiền là: 25.899.571 đồng, trong đó: trả nợ gốc là: 25.899.571 đồng và trả nợ lãi là: 0 đồng.

Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 18-10-2022 đã trả 16.307.023 đồng (gồm: trả nợ gốc: 16.307.023 đồng và trả nợ lãi là: 0 đồng).

Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 15-12-2022 đã trả 3.025.696 đồng (gồm: trả nợ gốc: 3.025.696 đồng và trả nợ lãi là: 0 đồng).

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19-10-2022 đã trả 6.566.852 đồng (gồm: trả nợ gốc: 6.566.852 đồng và trả nợ lãi là: 0 đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đoàn Kim N bà Đặng Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn.

Đến ngày 15-7-2023 ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 18-10-2022 nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng V1 đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông N và bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 18-10-2022.

Đến ngày 05-8-2023 ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 15-12-2022 nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng V1 đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông N và bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 15-12-2022.

Đến ngày 10-8-2023 ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19-10-2022 nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng V1 đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông N và bà H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19-10-2022.

Từ ngày 29-12-2023 Ngân hàng TMCP V đã tiến hành bán toàn bộ các khoản nợ của ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 cho Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty Cổ phần M) theo Hợp đồng mua bán nợ số 01/2023/VPB-MARS ngày 29-12-2023 và Phụ lục đính kèm ký giữa V1 với Công Ty Cổ Phần M. Theo đó, Ngân hàng đồng ý bán và Công ty Cổ Phần M đồng ý mua (các khoản nợ của ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã ký kết với Ngân hàng. Đồng thời, Ngân hàng đã chuyển giao quyền chủ nợ đối với toàn bộ nghĩa vụ của ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1. Công ty Cổ Phần M đã kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản bảo đảm liên quan đến khoản nợ của ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 các Thông báo, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản khác của Tòa án nhưng bị đơn đều không đến Tòa án giải quyết, không có ý kiến và không cung cấp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án.

Tại phiên tòa Công ty Cổ Phần M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như trên, buộc ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 thanh toán toàn bộ khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ tính đến ngày 25-6-2025 tổng số tiền là: 1.953.632.305 đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.324.756.954 đồng; nợ lãi trong hạn là 86.566.063 đồng, nợ lãi quá hạn là 457.507.683 đồng và phạt chậm trả lãi là 84.801.604 đồng cụ thể như sau:

Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 18-10-2022 còn nợ tổng số tiền là: 1.135.593.998 đồng, bao gồm: nợ gốc là 800.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 47.188.867 đồng, nợ lãi quá hạn là 244.060.274 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 44.344.856 đồng.

Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Khế ước nhận nợ ngày 15-12-2022 còn nợ tổng số tiền là: 573.616.963 đồng, bao gồm: nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 25.741. 427 đồng, nợ lãi quá hạn là 124.947.945 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 22.927.590 đồng.

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19-10-2022 còn nợ tổng số tiền là: 244,421,345 đồng bao gồm: nợ gốc là 124.756.954 đồng, nợ lãi trong hạn là 13.635.769 đồng, nợ lãi quá hạn là 88.499.464 đồng; nợ lãi chậm trả lãi là 17.529.158 đồng.

Ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi đối với các khoản nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 26-6-2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này, theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng.

Trong trường hợp ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 không thanh toán được khoản nợ nêu trên thì đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số: 7060215 ngày 15-10-2022 công chứng số 19726/HĐTC/2022 ngày 15-10-2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 14-12-2022 công chứng số 22775/SĐBS/2022 ngày 14-12-2022.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 96, diện tích 293,8 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 580729, số vào sổ cấp GCN: CS 02635 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08-10-2020 cho ông Đoàn Kim N. Trường hợp tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông N và bà H1 tại khoản vay trên thì ông N và bà H1 tiếp tục trả nợ cho đến khi thực hiện trả hết toàn bộ khoản vay.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ quyền sử dụng đất của ông Đoàn Kim N đã thế chấp cho ngân hàng thì tài sản thế chấp vẫn nguyên hiện trạng, không thay đổi so với thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp. Tài sản thế chấp hiện tại vẫn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông N. Tòa án tiến hành xác minh: Ông Đoàn Kim N không đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật mà Ngân hàng chỉ xác nhận về hoạt động kinh doanh của ông Đoàn Kim N. Tòa án đã Thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ nhưng các đương sự không cung cấp được đăng ký kinh doanh theo quy định.

Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa có quan điểm:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M: Buộc Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty Cổ phần M đến ngày 25-6-2025 tổng số tiền là: 1.953.632.305 đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.324.756.954 đồng; nợ lãi trong hạn là 86.566.063 đồng, nợ lãi quá hạn là 457.507.683 đồng và phạt chậm trả lãi là 84.801.604 đồng theo các Hợp đồng tín dụng, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ.

Kể từ ngày ngày 26-6-2025, ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc tương ứng với thời gian chậm thanh toán.

Chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần M về đề nghị phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp giữa ngân hàng và bị đơn theo quy định pháp luật. Ngoài ra còn đề nghị án phí theo quy định của pháp luật.

Về án phí:

Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty Cổ phần M số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bị đơn là ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa Công ty Cổ phần M và ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1, mục đích vay tiền là để: Vay bổ sung vốn kinh doanh cây cảnh nên xác định là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành xác minh: Ông Đoàn Kim N không đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật mà Ngân hàng chỉ xác nhận về hoạt động kinh doanh của ông Đoàn Kim N do đó xác định là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 có nơi cư trú tại tổ dân phố T, phường T, quận D, thành phố Hải Phòng vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi ký kết hợp đồng tín dụng, bị đơn là ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

- Về nội dung:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M: Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18-10-2022, Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15-12-2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19-10-2022 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 đã ký kết vay lần lượt số tiền là 800.000.000 đồng, 400.000.000 đồng và 140.000.000 đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo các điều khoản đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, giải ngân đủ số tiền cho vay cho ông N và bà H1; ông N và bà H1 đã nhận đủ số tiền vay, nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nợ gốc và lãi theo đúng cam kết đã ký trong các khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 25-6-2025 ông N và bà H1 còn nợ Công ty Cổ phần M tổng số tiền là tổng số tiền là: 1.953.632.305 đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.324.756.954 đồng; nợ lãi trong hạn là 86.566.063 đồng, nợ lãi quá hạn là 457.507.683 đồng và phạt chậm trả lãi là 84.801.604 đồng. Do đó, Công ty Cổ phần M khởi kiện yêu cầu ông N và bà H1 phải trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ, phù hợp với các điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ngoài ra, ông N và bà H1 phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán theo kể từ ngày 26-6-2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ gốc.

[4] Đối với yêu cầu phát mại tài sản thế chấp của Ngân hàng: Hợp đồng thế chấp số: 7060215 ngày 15-10-2022 công chứng số 19726/HĐTC/2022 ngày 15-10-2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 14-12-2022 công chứng số 22775/SĐBS/2022 ngày 14-12-2022 tại văn phòng C1. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 96, diện tích 293,8 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 580729, số vào sổ cấp GCN: CS 02635 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08-10-2020 cho ông Đoàn Kim N. Tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp tài sản, các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, tự định đoạt, thỏa thuận, mục đích và nội dung thỏa thuận phù hợp với đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp tại các điều 317, 318, 319, 323 Bộ luật Dân sự 2015. Vì vậy, hợp đồng thế chấp tài sản là hợp pháp và có hiệu lực. Theo Hợp đồng thế chấp nêu trên, ông N và bà H1 không có khả năng trả nợ đối với các khoản vay trên, Công ty Cổ phần M yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với cam kết tại Hợp đồng thế chấp tài sản, phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M được chấp nhận nên Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần M số tiền tạm ứng án phí mà ngân hàng đã nộp theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 317, 318, 319, 323, 463, 465, 466, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự, các Điều 90, Điều 91, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M: Buộc ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty Cổ phần M số tiền 1.953.632.305 (Một tỷ chín trăm năm mươi ba triệu sáu trăm ba mươi hai nghìn ba trăm linh năm) đồng, bao gồm: nợ gốc là 1.324.756.954 (Một tỷ ba trăm hai mươi tư triệu bảy trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi tư) đồng; nợ lãi trong hạn là 86.566.063 (T1 mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm sáu mươi ba) đồng, nợ lãi quá hạn là 457.507.683 (Bốn trăm năm mươi bảy triệu năm trăm linh bảy nghìn sáu trăm tám mươi ba) đồng và phạt chậm trả lãi là 84.801.604 (T1 mươi tư triệu tám trăm linh một nghìn sáu trăm linh tư) đồng theo các Hợp đồng cho vay số LN2210127060215 ngày 18 tháng 10 năm 2022, Hợp đồng cho vay số LN2212137784025 ngày 15 tháng 12 năm 2022 và Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ ngân hàng Đ ký ngày 19 tháng 10 năm 2022.

2. Kể từ ngày 26 tháng 6 năm 2025, ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong các văn bản tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc tương ứng với thời gian chậm thanh toán. Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Trường hợp ông Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 không trả khoản tiền nợ nêu trên, Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 96, diện tích 293,8 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 580729, số vào sổ cấp GCN: CS 02635 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 08 tháng 10 năm 2020 cho ông Đoàn Kim N. Hợp đồng thế chấp số: 7060215 ngày 15-10-2022 công chứng số 19726/HĐTC/2022 ngày 15-10-2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng số 01/PLHĐ ngày 14-12-2022 công chứng số 22775/SĐBS/2022 ngày 14-12-2022 tại văn phòng C1.

Nếu tài sản đảm bảo không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì bị đơn tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ khoản vay.

4. Về án phí: Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Công ty Cổ phần M số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 32.776.000 (ba mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng theo biên lai số 0006096 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Dương Kinh. Bị đơn là anh Đoàn Kim N và bà Đặng Thị H1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm 70.608.969 (bảy mươi triệu sáu trăm linh tám nghìn chín trăm sáu mươi chín) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS Q.Dương Kinh,
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Cổ phần M - Đoàn Kim N, Đặng Thị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger