Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 08/2025/DS-ST

Ngày 18 – 3 – 2025

“V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Giang
  2. Bà Trịnh Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2024/TLST-DS, ngày 22 tháng 7 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V1 (tên viết tắt V2).

Địa chỉ: Số H, L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T – Chức vụ: Phó giám đốc Trung tâm T1 pháp lý.

Theo văn bản uỷ quyền số 58/2023-UQ-CTQT ngày 12 tháng 7 năm 2023.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phùng Thanh K – Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ (có mặt).

Theo văn bản uỷ quyền số 2027/2024-UQ-VPB ngày 06 tháng 6 năm 2024.

2. Bị đơn: Ông Trần Quốc K1, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Bà Tạ Thúy V, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số D, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Nơi ở hiện nay: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Phùng Thanh K trình bày ý kiến:

Ngân hàng thương mại cổ phần V1 Chi nhánh Thành phố H - Phòng giao dịch Bà C có cho ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V vay vốn với nội dung như sau: Số tiền vay 119.000.00đồng. Mục đích vay: Mua xe ô tô tải (thùng bạt) DONGBEN DB1021 /K9/KM sản xuất mới 2022 để đầu tư TSCĐ phục vụ kinh doanh bán trái cây. Thời hạn vay: 48 tháng tính từ ngày tiếp theo ngày 22/12/2022 đến ngày 22/12/2026. Lãi suất cho vay 14.05%/năm. Phương thức điều chỉnh lãi suất: Cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh định kỳ giải ngân 03 tháng/lần. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là 01 xe ô tô tải DONGBEN biển số đăng ký 95H-01232; số khung: RMBADACC&N9902274; số máy SWB11M22602464.

Quá trình sử dụng vốn vay, ông K1 và bà V thanh toán nợ cho ngân hàng đến tháng 04/2023. Sau đó, ông K1 và bà V đã không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng như thoả thuận theo hợp đồng đã ký kết. Ngày 16/5/2023, khoản vay nêu trên đã chuyển thành nợ quá hạn. Tổng dư nợ tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 130.244.146 đồng. Trong đó: nợ gốc 104.858.713 đồng và lãi quá hạn 25.385.433 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần mời ông K1, bà V, tạo điều kiện về thời gian và đề nghị thanh toán nhưng khách hàng vẫn không trả nợ vay cho ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V phải thanh toán một lần cho V2 tổng số tiền nợ 130.244.146 đồng.

Tại phiên tòa, Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông K1 bà V thanh toán nợ theo hợp đồng, không yêu cầu phải trả một lần. Buộc bị đơn ông K1, bà V phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết, tính đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền 146.546.084đồng. Trong đó: Nợ gốc: 104.858.713 đồng. Nợ lãi quá hạn: 41.687.371 đồng.

Ngoài ra ông K1 và bà V còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn theo thoả thuận tại hợp đồng cho vay và phụ lục hợp đồng đã ký kết từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ cho ngân hàng.

Trường hợp ông K1, bà V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản đã thế chấp đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ.

Quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn ông ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V vắng mặt chưa ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1. ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ theo hợp đồng cho vay tổng số tiền 146.546.084đồng. Trong đó: Nợ gốc: 104.858.713 đồng. Nợ lãi quá hạn: 41.687.371 đồng.

Tiếp tục tính lãi suất theo thoả thuận phát sinh tại hợp đồng và phụ lục hợp đồng đã ký kết giữa Ngân hàng và ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số nợ.

Trường hợp, ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu kê biên phát mãi tài sản đã thế chấp đã ký kết để đảm bảo thu hồi nợ.

Về chi phí tố tụng và án phí bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1 khởi kiện bị đơn ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V vắng mặt, Toà án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai ông K1, bà V vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân Hội đồng xét xử sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tòa án căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự; Điều 173, 179 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Hợp đồng cho vay số LN2211227523068; phụ lục hợp đồng 01/PLHĐ; Hợp đồng thế chấp số LN2211227523068 ngày 21/12/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V1 và ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V; Phiếu đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng; văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/12/2022; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 95 000185 ngày 19/12/2022 tên Trần Quốc K1; Bảng chiết tính lãi tiền vay quá hạn tên khách hàng Trần Quốc K1 tính đến ngày 18/3/2025; Căn cước công dân tên Trần Quốc K1; Căn cước công dân tên Tạ Thúy V; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; Văn bản uỷ quyền số 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/07/2023; Văn bản uỷ quyền số 2027/2024-UQ-VPB ngày 06 tháng 6 năm 2024; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần S; Điều lệ Ngân hàng; Quyết định bổ nhiệm nhân sự; số 2028H/2023/QĐNS-TGĐ ngày 26/6/2023.

[4] Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên chứng minh được giữa Ngân hàng và ông K1, bà V có thỏa thuận và giao kết và thực hiện các Hợp đồng cho vay số LN2211227523068; phụ lục hợp đồng 01/PLHĐ; Hợp đồng thế chấp số LN2211227523068 cùng ngày 21/12/2022 để vay số tiền 119.000.000 đồng . Mục đích vay: Mua xe ô tô tải phục vụ kinh doanh bán trái cây. Thời hạn vay: 48 tháng. Lãi suất cho vay 14.05%/năm. Phương thức điều chỉnh lãi suất: Cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó được điều chỉnh định kỳ giải ngân 03 tháng/lần. Phương thức thanh toán: Thanh toán định kỳ theo lịch đã thoả thuận, các kỳ nợ gốc: mỗi tháng một lần vào ngày 15 tính từ ngày 15/01/2023 với số tiền 2.480.000đồng; các kỳ nợ lãi: cùng vào ngày 15 hàng tháng cùng với kỳ trả nợ gốc.

[5] Quá trình thực hiện hợp đồng ông K1, bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi theo định kỳ của hợp đồng; ông K1 và bà V thanh toán nợ cho Ngân hàng đến tháng 04/2023. Sau đó, ông K1 và bà V đã không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng như hợp đồng đã ký kết. Kể từ ngày 16/5/2023, theo thoả thuận đã ký kết tại Hợp đồng cho vay thì khoản vay nêu trên đã chuyển thành nợ quá hạn.

[6] Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng yêu cầu ông K1, bà V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 146.546.084đồng. Trong đó: Nợ gốc: 104.858.713 đồng. Nợ lãi quá hạn: 41.687.371 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Đối với Hợp đồng thế chấp số LN2211227523068 ngày 21/12/2022 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Trần Quốc K1, bà Tạ Thúy V; đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, có Văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm hợp đồng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/12/2022. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là 01 xe ô tô tải DONGBEN biển số đăng ký 95H-01232; số khung: RMBADACC&N9902274; số máy SWB11M22602464. Về nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật dân sự nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản trong trường hợp ông K1, bà V không thực hiện hoặc hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ.

[8] Từ những nhận định và chứng cứ nêu trên, căn cứ các quy định tại khoản 1, 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà. Buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc K2, bà Tạ Thúy V có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng khoản nợ theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 146.546.084đồng.

[9] Tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cho vay, phụ lục Hợp đồng đã ký kết giữa Ngân hàng và ông K2, bà V kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi ông K2, bà V trả hết số nợ. Trong trường hợp ông K2, bà V không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết để thu hồi nợ.

[10] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã nộp xong với số tiền 2.000.000đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên bị đơn phải chịu. Bị đơn ông K2, bà V có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.000.000đồng.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị đơn ông K2, bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với yêu cầu của Ngân hàng được Toà án chấp nhận với số tiền 7.327.304 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 157, 173, 179, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 40, Điều 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, khoản 1, 5 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1.
  3. Buộc bị đơn ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V1 với tổng số tiền 146.546.084đồng (một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn không trăm tám mươi bốn đồng). Trong đó: Nợ gốc: 104.858.713 đồng (một trăm lẻ bốn triệu tám trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm mười ba đồng), nợ lãi quá hạn: 41.687.371 đồng (bốn mươi mốt triệu sáu trăm tám mươi bảy nghìn ba trăm bảy mươi mốt đồng).
  4. Tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết tại Hợp đồng cho vay LN2211227523068; Phụ lục hợp đồng 01/PLHĐ ngày 21/12/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V1 và ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi bị đơn ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V trả hết số nợ.
  5. Trong trường hợp bị đơn ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay, Ngân hàng thương mại cổ phần V1 có quyền đề nghị phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số LN2211227523068 ngày 21/12/2022 được ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V1 và ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V.
  6. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
  7. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng thương mại cổ phần V1 đã nộp xong với số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng). Bị đơn ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V có trách nhiệm liên đới trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1 số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng).
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Quốc K1 và bà Tạ Thúy V phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 7.327.304 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi bảy nghìn ba trăm lẻ bốn đồng).
  9. Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.256.000đồng (ba triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007919 ngày 22 tháng 7 năm 2024 nhận tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  11. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger