TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/DS-ST
Ngày: 13 - 6 - 2025
"V/v tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trần Quang Huấn;
2. Ông Vi Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2025,giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1934
Địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
1. Người được nguyên đơn ủy quyền: Ông Hà Quang H1, sinh năm 1972
Địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Ông Hà Quang D, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2. Bà Hà Thị T, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khu N, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
3. Ông Hà Quang H1, sinh năm 1972
Địa chỉ: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
(Ông H1, bà T có mặt; Ông D vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản tự khai và tại phiên tòa,Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hà Quang H1, cũng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Do cụ H tuổi cao, sức yếu nên đã ủy quyền cho con trai út của cụ là Hà Quang H1, sinh năm 1972, hiện sinh sống tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ đại diện cho cụ tham gia tố tụng và được quyền thay mặt và quyết định mọi vấn đề cho cụ H.
Mẹ ông H1 là cụ Nguyễn Thị H kết hôn với ông Hà Hữu C, sinh năm 1927 vào năm 1958. Vợ chồng cụ H có sinh được 03 người con gồm: Hà Quang D, sinh năm 1961, hiện sinh sống tại khuHùng Thao, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Hà Thị T, sinh năm 1970, hiện sinh sống tại khuNgọc Tháp, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và Hà Quang H1, sinh năm 1972, hiện sinh sống tại khuHùng Thao, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Cụ C đã chết tháng 8/2011, không để lại di chúc. Vợ chồng cụ H có 01 thổ cư diện tích 414m2 (Trong đó đất ở 300m2, đất vườn 114m2) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khuHùng Thao, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông C vào ngày 25/9/2000. Năm 2006, UBND thị xã P thu hồi 74,3m2 đất ở làm mở rộng đê T. Diện tích đất còn lại là 339,7m2 (Trong đó đất ở 225,7m2, đất vườn 114m2). Năm 2011, khi cụ C còn sống, vợ chồng cụ H đã quyết định chia thửa đất thổ cư trên cho 03 con của hai cụ. Do bà T không nhận nên phần của bà T, hai cụ đã cho luôn ông D làm nơi ở, thờ cúng và phần ông D được hưởng có diện tích 239,6m2 ( trong đó đất ở 128,1m2, đất vườn 111,5m2). Phần đất còn lại có diện tích 97,6m2 thì chia cho ông H1. Tuy nhiên, lúc đó ông H1 không làm thủ tục sang tên đất nên phần diện tích này vẫn đứng tên cụ C và do cụ H là người trực tiếp quản lý. Văn bản tặng cho đất của cụ C, cụ H hiện gia đình không ai lưu giữ được. Hiện nay, cụ H muốn cho ông H1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất còn lại thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50, nhưng ông D không chịu đến cơ quan có thẩm quyền ký tên. Nay đề nghị TAND thị xã Phú Thọ xác định phần tài sản của cụ H trong 97,6m2 đất thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khuHùng Thao, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Phân chia thừa kế đối với ½ diện tích 97,6m2 đất là di sản cụ C để lại cho 4 mẹ con. Phần của cụ H và phần cụ H được hưởng thừa kế từ cụ C trong diện tích đất 97,6m2 thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50, cụ đồng ý tặng luôn cho con trai út là Hà Quang H1.Ông H1 nhất trí được chia thừa kế như yêu cầu của cụ H và xin nhận phần diện tích đất cụ H được chia và thừa kế tặng cho ông. Ông và cụ H đề nghị HĐXX thanh toán công bảo quản, tôn tạo tài sản cho cụ H bằng một suất thừa kế.
Đối với đất nông nghiệp của vợ chồng cụ H, cụ C, ông và cụ H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ông H1 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định định giá tài sản và chịu án phí đối vời phần thừa kế của bà T.
*Bị đơn ông Hà Quang D vắng mặt nhưng có lời khai trình bày:
Bố ông là Hà Hữu C, sinh năm 1927, đã chết ngày 11/8/2011, có để lại di chúc. Mẹ ông là Nguyễn Thị H, sinh năm 1934. Bố mẹ ông có một thửa đất thổ cư diện tích 414m2 (Trong đó đất ở 300m2, đất vườn 114m2) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khu D, xã H và đã được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000 mang tên cụ C. Khoảng đầu năm 2011, khi bố mẹ ông còn minh mẫn đã đến UBND xã H làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất cho các con. Ông khẳng định bố mẹ ông có lập văn bản phân chia đất và do UBND xã H đang lưu giữ. Do bà T – em gái ông không nhận nên phần của bà T, bố mẹ ông cho con trai ông và nhập luôn vào phần cho ông nên ông được chia cho là 239,6m2 (trong đó đất ở 128,1m2, đất vườn là 111,5m2), phần diện tích còn lại cho em út của ông là Hà Quang H1. Ngoài ra bố mẹ ông còn có 04 thửa đất trồng lúa và đã được chia cho các con từ năm 2011 như sau: Thửa đất số 498 tờ bản đồ số 51 diện tích 530m2 được chia cho ông và ông H1 mỗi người ½.Thửa đất số 18 tờ bản đồ số 51 diện tích 115m2 được chia cho ông; Thửa đất số 141 tờ bản đồ số 50 diện tích 496m2và thửa đất số 333-2 tờ bản đồ số 51 diện tích 530m2 được chia cho ông H1. Ông và ông H1 đang canh tác đúng với phần đã được chia, ông H1 không chuyển quyền sử dụng đất đó là việc của ông H1. Ông thừa nhận đã được giao các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến làm việc vì ông đã ký vào giấy chuyển nhượng đất từ năm 2011, ông không tranh chấp phần đất còn lại nên ông không đến Tòa làm việc.
* Người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị T trình bày:
Bà thừa nhận toàn bộ lời trình bày của mẹ bà – Cụ Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Quang H2 là đúng. Bà nhất trí với yêu cầu của cụ H về việc yêu cầu Tòa án xác định phần tài sản của cụ H trong 97,6m2 đất thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khuHùng Thao, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Phân chia thừa kế đối với ½ diện tích 97,6m2 đất là di sản cụ C để lại cho 4 mẹ con và thanh toán công bảo quản, tôn tạo tài sản cho cụ H bằng một suất thừa kế. Phần bà được hưởng thừa kế của cụ C, bà xin tặng cho ông Hà Quang H1. Bà thừa nhận bà không cung cấp được văn bản tặng cho hay văn bản phân chia đất mà cụ C, cụ H lập vào năm 2011.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ phát biểu quan điểm xác định việc tuân theo pháp luật của những ngời tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật tố tụng dân sự. Căn cứ Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1,5 Điều 147, 157,158,165,166 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 609, 612, 613,649, điểm a khoản 1 điều 650, điểm a khoản 1, khoản 2 điều 651, khoản 3 điều 658, khoản 2 điều 660 Bộ luật dân sự 2015; Điều 33, điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 7 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2 Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009.
* Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, xác nhận bà H được quyền sở hữu ½ tài sản chung vợ chồng với ông C là 48,8m2 đất, trị giá là 329.400.000 đồng; chia di sản thừa kế của ông Hà Hữu C là ½ giá trị thửa đất số 114 là 329.400.000 đồng chia cho 04 người gồm: bà H, anh D, chị T, anh H1 và công sức duy trì, quản lý, tôn tạo di sản thừa kế bằng 01 xuất hưởng thừa kế cho bà H. Cụ thể: 329.400.000 đồng: 5 xuất = 65.880.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự: Bà Nguyễn Thị H, chị Hà Thị T, tặng cho anh Hà Quang H1 phần di sản thừa kế được hưởng của thửa đất số 114. Bà H tặng cho anh H1 phần tài sản bà được sử dụng trong khối tài sản chung vợ chồng giữa bà và ông C và công sức duy trì, quản lý, tôn tạo di sản thừa kế mà mình được hưởng.
Như vậy Anh Hà Quang H1 được quyền sử dụng 97,6 m2 đất ở tại thửa đất số 114, tờ bản đồ số 50, ở khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 319385 do UBND thị xã P, tỉnh Phú Thọ cấp ngày 25/9/2000 cho ông Hà Hữu C.
Anh Hà Quang H1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản thừa kế cho anh Hà Quang D số tiền 65.880.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Xác nhận anh Hà Quang H1 tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản là 7.450.000₫,
Về án phí dân sự sơ thẩm thực hiện theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành báo gọi lấy lời khai, thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Do bị đơn không có mặt nên Tòa án không công khai tài liệu và hòa giải để các bên thống nhất được với nhau. Vì thế Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
Tài sản mà nguyên đơn yêu cầu phân chia và chia thừa kế là thửa đất số 114, tờ bản đồ số 50, diện tích 97,6m2 (loại đất ở nông thôn) thuộc khu D, xã H nay là khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ và đã được UBND huyện L, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên ông Hà Hữu C vào ngày 25/9/2000. Giá trị tài sản theo định giá là 6.750.000đ/m2 đất. Đây lài sản chung của cụ C và cụ H nên cụ H đương nhiên được quyền sử dụng ½ diện tích đất là 48,8m2. Do đó di sản của cụ C để chia thừa kế là phần đất ở có diện tích 48.8m2 trị giá 329.400.000₫.
[3]. Về thời hiệu khởi kiện và quyền khởi kiện của các đương sự: Căn cứ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.
Cụ Hà Hữu C chết năm 2011 nên thời hiệu khởi kiện vẫn trong thời hạn, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án chia thừa kế.
[4]. Về diện thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất:
Theo lời khai của các đương sự thì vợ chồng cụ Hà Hữu C, Nguyễn Thị H có 03 người con là Hà Quang D, Hà Thị T và Hà Quang H1. Do đó hàng thừa kế thứ nhất của cụ C có 04 người là cụ H, ông D, ông H1 và bà T. Bà T, ông H1 và cụ H nhất trí trả cho cụ H công duy trì bảo quản tài sản bằng một suất thừa kế. Do cụ H có quan điểm phần diện tích đất thuộc phần của cụ và phần cụ được hưởng thừa kế từ cụ C cụ tặng cho luôn ông H1; Bà T có quan điểm phần bà được hưởng thừa kế từ cụ C bà tặng cho luôn ông H1; Ông H1 đồng ý chia thừa kế và xin nhận phần tặng cho của cụ H, bà T nên ông H1 được hưởng diện tích đất là 85,4m2.
[5]. Xét về nội dung và yêu cầu khởi kiện của các đương sự:
Tại lời trình bày ban đầu, các buổi hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, cụ H, ông H1, bà T đều nhất trí yêu cầu Tòa án chia thừa kế đối với di sản do cụ C để lại là phần diện tích đất còn lại thửa đất số 114, tờ bản đồ 50 có diện tích 97,6m2, địa chỉ thửa đất: khu dân cư H, H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Di sản thừa kế mà cụ C để lại là phần đất ở có diện tích 48,8m2, giá trị tài sản theo định giá là 329.400.000đ.
Ông Hà Quang D không có mặt, lời khai của ông D đã thừa nhận năm 2011, khi cụ C còn sống đã chia cho ông 239,6m2 ( trong đó đất ở 128,1m2, đất vườn là 111,5m2) thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ 50. Diện tích đất còn lại 97,6m2 là vợ chồng cụ C cho ông H1, ông không tranh chấp với ông H1 và cũng không đồng ý đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục chuyển nhượng cho ông H1. Tuy nhiên ông D không cung cấp được cho Tòa án văn bản thể hiện việc phân chia, tặng cho quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất 97,6m2 mà ông cho rằng cụ C đã phân chia, tặng cho từ năm 2011. Vì thế việc cụ H, ông D, ông H1, bà T cho rằng năm 2011, vợ chồng cụ C, cụ H đã tặng cho 97,6m2 đất của thửa đất số 114, tờ bản đồ số 50, thuộc khu H, xã H, chủ sử dụng đất tên Hà Hữu C cho ông Hà Quang H1 từ năm 2011 là không có căn cứ.
Xét yêu cầu của cụ H, ông H1 và bà T là phân chia thừa kế và tặng luôn phần tài sản của họ được hưởng cho ông H1 là sự tự nguyện của cụ H và bà T, phù hợp quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Sau khi cụ C chết năm 2011, cụ H là người trực tiếp quản lý duy trì tài sản này. Nay cụ H, ông H1, bà T đều nhất trí trả công duy trì, quản lý tài sản cho cụ H bằng một xuất thừa kế. Đây là yêu cầu chính đáng, phù hợp quy định của pháp luật, HĐXX chấp nhận buộc các đồng thừa kế thanh toán công duy trì tôn tạo tài sản cho cụ H bằng giá trị 01 suất thừa kế trị giá 65.880.000đ.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy rằng di sản thừa kế do cụ C để lại để chia thừa kế là 48,8m2 đất (loại đất ở ) thuộc thửa đất số 114, tờ bản đồ 50, địa chỉ thửa đất: khu dân cư H, H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, trị giá 329.400.000đ. Căn cứ quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với nguyện vọng của các đương sự chia thừa kế theo giá trị di sản. Sau khi trừ phần phải thanh toán công duy trì, tôn tạo tài sản cho cụ H là 65.880.000đ, giá trị di sản để chia thừa kế là 263.520.000đ, mỗi một suất thừa kế trị giá là 65.880.000đ. Do ông H1 được cụ H, bà T tặng cho phần tài sản và phần thừa kế của mình nên giao cho ông H1 được sở hữu, sử dụng toàn bộ 97,6m2 đất thuộc thửa 114 tờ bản đồ số 50 và ông H1 có nghĩa vụ thanh toán phần thừa kế của ông D cho ông D là 65.880.000đ.
[5] Về án phí: Cụ Nguyễn Thị H là người trên 60 tuổi có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và điều 2 Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009. Ông H1, ông D, bà T phải chịu án phí tương ứng với phần tài sản mà mình được hưởng theo quy định của pháp luật. Do bà T đã tự nguyện tặng cho phần thừa kế của mình cho ông H1 và ông H1 tự nguyện chịu thay án phí cho bà T nên ông H1 phải nộp án phí đối với phần bà T được thừa kế theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 609, 612, 613,649, điểm a khoản 1 điều 650, điểm a khoản 1, khoản 2 điều 651, khoản 3 điều 658, điều 660 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1,5 Điều 147, điều 157, điều 158, điều 165, điều 166, điều 246, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 7 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;Điều 2 Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009;
* Xử:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị H về yêu cầu xác định phần tài sản của cụ H và phân chia di sản do cụ Hà Hữu C để lại để chia thừa kế.
Chấp nhận yêu cầu của cụ H và đề nghị của ông H1, bà T về việc trích trả trong di sản thừa kế cụ C để lại cho cụ H phần công duy trì bảo quản tài sản bằng 01 suất thừa kế là 65.880.000₫.
Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hà Hữu C gồm 04 người là Nguyễn Thị H, Hà Quang D, Hà Thị T và Hà Quang H1.
Xác nhận cụ Nguyễn Thị H được quyền sử dụng 48,8m2 đất (loại đất ở )thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trị giá 329.400.000₫.
Xác nhận di sản do cụ Hà Hữu C để lại để chia thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 114, tờ bản đồ 50,diện tích 48,8m2. Địa chỉ thửa đất:khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tổng trị giá tài sản theo định giá là 329.400.000đ, hiện do cụ Nguyễn Thị H đang quản lý.
Công nhận sự tự nguyện của cụ Nguyễn Thị H, chị Hà Thị T, tặng cho ông Hà Quang H1 phần di sản thừa kế được hưởng của thửa đất số 114; Cụ H tặng cho ông H1 phần tài sản cụ được sử dụng trong khối tài sản chung vợ chồng giữa cụ và cụ C và công sức duy trì, quản lý, tôn tạo di sản thừa kế mà mình được hưởng.
Giao cho ông Hà Quang H1 được quyền sử dụng 97,6m2 đất (loại đất ở ) thuộc thửa 114, tờ bản đồ số 50 tại khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trị giá 658.800.000đ. Ông H1 có toàn quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục hành chính về đất đai theo quy định.
Buộc ông Hà Quang H1 phải thanh toán cho ông Hà Quang D giá trị 01 suất thừa kế là 65.880.000đ (sáu mươi lăm triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Xác nhận ông Nguyễn Văn H3 tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá là 7.450.000₫
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Nguyễn Thị H.
Ông Hà Quang H1 phải chịu 6.588.000đ (sáu triệu năm trăm tám mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Hà Quang D phải chịu 3.294.000đ (ba triệu hai trăm chín mươi tư nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Khi bản án có hiệu lực phápluật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả tiền cho đến khi thi hành án xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên đương sự nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự;
Trường hợp được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Thanh |
Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế
- Số bản án: 08/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp yêu cầu chia di sản thừa kế
