|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2025/DS-ST
Ngày: 11-3-2025
V/v: “Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Ngọc Hiền.
Ông Dương Thanh Long.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ngọc Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Đức Nam – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 05 tháng 3 năm 2025 và 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2018 về việc “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 600/2023/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2023; Thông báo mở lại phiên tòa số 987/TB-TA ngày 19 tháng 11 năm 2024; Thông báo dời lịch số 89/TB-TA ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Tô Thị N, sinh năm 1954.(có mặt)
- Địa chỉ: Số C, tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà N (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 15/3/2023): Ông Trần Văn P, sinh năm 1954; địa chỉ: Số C, tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N: Luật sư V – Công ty L1 và Đồng sự – Đoàn luật sư thành phố H.(có mặt)
- - Bị đơn: Bà Tô Ngọc C, sinh năm 1956.
- Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà C (Theo Giấy ủy quyền ngày 07/8/2018): Ông Nguyễn Đình Thái V, sinh năm 1979; địa chỉ: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.(có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C: Luật sư Trần Gia M – Văn phòng luật sư Trần Gia M – Đoàn luật sư tỉnh Đ.(có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Bà Tô Thị Ngọc H, sinh năm 1945.(vắng mặt)
- Địa chỉ: Số A, đường N, phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
- 2. Bà Tô Ngọc C1, sinh năm 1948.
- Địa chỉ: I, Barrowhollow D, T, 77083, Hoa Kỳ.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà C1 (Văn bản ủy quyền ngày 26/12/2019): Bà Đặng Ngọc H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
- 3. Bà Trang Thị T, sinh năm 1964.(có mặt)
- 4. Chị Tô Ngọc H2, sinh ngày 2005.(có mặt)
- Cùng địa chỉ: Số C, ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- 5. Ông Vũ K, sinh năm 1951.(có mặt)
- Địa chỉ: Số A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1:
- 1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959.(vắng mặt)
- Địa chỉ: Số D D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- 2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1961.
- Địa chỉ: Số G, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
- 3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965.
- Địa chỉ: Số A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- 4. Bà Nguyễn Thị Tuyết V1, sinh năm 1967.(vắng mặt)
- Địa chỉ: Số A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- 5. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968.
- Địa chỉ: Số A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- 6. Bà Nguyễn Thị Thanh V2, năm 1969.
- Địa chỉ: Số A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà L, ông S, ông T2 và bà Thanh V2: Ông Nguyễn Văn D.
- 7. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1963.(chết năm 2006)
- Người thừa kế của ông T3 (vợ và con): Bà Trịnh Thị Tuyết M1, sinh năm 1965 và chị Nguyễn Thị Kim N1, sinh năm 1990; cùng địa chỉ: Số H L, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà M1 và chị N1: Ông Nguyễn Văn D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N; Bản tự khai và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của ông Trần Văn P - người đại diện theo ủy quyền của bà N cũng như lời trình bày của bà Tô Thị N tại phiên tòa:
Cha mẹ bà Tô Thị N là cụ Tô Văn T4 (sinh năm 1914, chết năm 2002) và cụ Lê Thị H3 (sinh năm 1915, chết năm 1999). Cụ T4 và cụ H3 chung sống với nhau từ năm 1939 và sinh được 05 người con gồm: Tô Thị Ngọc H, Tô Ngọc C1, Tô Ngọc P1 (chết năm 2009, có vợ là Trang Thị T và có 01 người con là Tô Ngọc H2), Tô Thị N và Tô Ngọc C.
Ngoài 05 người con chung với cụ T4 như trên thì cụ H3 còn có 01 người con riêng tên Nguyễn Thành T1 (sinh năm 1934, chết năm 1969). Ông T1 có vợ là bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1938) và có 08 người con chung với bà X gồm: Nguyễn Văn M2 (sinh năm 1957 và đã chết từ khi còn nhỏ), Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (chết năm 2006, có vợ là Trịnh Thị Tuyết M1 và có 01 con là Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2.
Ngoài những người con chung và con riêng trên thì cụ T4 và cụ H3 không còn người con nào khác kể cả con nuôi và con ngoài giá thú.
Nguồn gốc phần đất diện tích 1.254,4m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . hiện bà N đang tranh chấp thừa kế với bà Tô Ngọc C là do cụ H3 thừa kế từ cha mẹ. Năm 1999, cụ H3 chết không để lại di chúc. Năm 2002, cụ T4 có lập di chúc phân chia tài sản (Di chúc lập ngày 02/4/2002, Công chứng số 40, quyển số 05 tại Phòng C2 tỉnh Đồng Nai).
Các đồng thừa kế không có lập biên bản về việc phân chia tài sản thừa kế mà chỉ có thỏa thuận với nhau khi bà C công khai di chúc vào ngày 13/06/2009. Do nhiều lần các chị em trong gia đình đề nghị bà C thực hiện việc phân chia di sản thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . nhưng bà C vẫn không đồng ý nên bà N mới khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại bà N xác định chỉ yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo pháp luật cho các anh chị em trong gia đình. Riêng căn nhà tọa lạc trên thửa đất là do bà C xây dựng nên bà N không yêu cầu chia.
Tại phiên tòa, bà N có ý kiến về việc chia thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . như sau:
Căn cứ theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 3453/2020 ngày 30/6/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B thì thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo BĐĐC có diện tích là 1.254,4m² nhưng hiện trạng thực tế sử dụng chỉ còn là 1.152,4m² (do có 02m² bị các thửa lân cận lấn chiếm và 100m² dùng làm thổ mộ của gia tộc) nên bà N chỉ đề nghị chia thừa kế đối với phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m².
Dựa theo một phần di nguyện của cụ T4 tại di chúc được ông Thành lập vào ngày 02/4/2002 và căn cứ theo quy định pháp luật, bà N đề nghị chia như sau:
Bà N xin được quản lý, sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo BĐĐC có diện tích 1.254,4m², theo hiện trạng thực tế là 1.252,4m² (trong đó có phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² và phần diện tích đất thổ mộ là 100m²). Bà N đồng ý thanh toán lại cho các đồng thừa kế giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng đối với phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² với mức giá 35.000.000 đồng/m2 (trong đó phần bà N được hưởng là 195,336m² gồm 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4), cụ thể như sau:
- - Thanh toán cho bà Tô Ngọc C số tiền 10.105.760.000 đồng (tương đương với phần diện tích đất bà C được hưởng là 288,736m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3, 113,022m² từ cụ T4 và 93,40m² trích riêng cho bà C dựa theo di chúc của cụ T4 do bà C thờ cúng cha mẹ).
- - Thanh toán cho bà Tô Thị Ngọc H số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với phần diện tích đất bà H được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho bà Tô Ngọc C1 số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với phần diện tích đất bà C1 được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2 (vợ và con của ông Tô Ngọc P1) số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với phần diện tích đất ông P1 được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho những người thừa kế thế vị (con của ông Nguyễn Thành T1) gồm các ông/bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (người thừa kế của ông T3 là bà Trịnh Thị Tuyết M1 và chị Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 số tiền 2.880.990.000 đồng (tương đương với phần diện tích đất 82,314m² ông T1 được hưởng từ cụ H3).
Ngoài ra, bà N cũng xin được sở hữu căn nhà do bà C và chồng bà C là ông Vũ K xây dựng trên thửa đất có diện tích xây dựng là 411,32m². Bà N đồng ý thanh toán lại cho bà C và ông K giá trị căn nhà theo giá thị trường tại Chứng thư thẩm định giá số 1870/T ĐG-CT ngày 14/7/2020 của Công ty cổ phần T8 với số tiền 1.583.582.000 đồng.
Bà N cam kết sẽ thanh toán tiền cho các đồng thừa kế chậm nhất vào ngày 31/12/2025. Sau ngày 31/12/2025 nếu bà N chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì bà N đồng ý chịu lãi suất theo quy định pháp luật.
Đối với nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà) nay bà N xin rút, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai và lời trình bày của ông Nguyễn Đình Thái V - Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Tô Ngọc C:
Về con chung giữa cụ Tô Văn T4 (sinh năm 1914, chết ngày 21/11/2002) và cụ Lê Thị H3 (sinh năm 1915, chết ngày 05/7/1999) cũng như về con riêng của cụ H3 đúng như bà N trình bày.
Tại phiên tòa, với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà C, ông V đồng ý với yêu cầu chia di sản thừa kế của bà N và đồng ý với phương án chia như bà N đưa ra. Ông V cũng đồng ý cho bà N thời hạn thanh toán chậm nhất vào ngày 31/12/2025, sau ngày 31/12/2025 nếu bà N chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì bà N phải trả lãi suất chậm cho bà C và ông K theo quy định pháp luật. Bà C và ông K chỉ đồng ý bàn giao nhà đất cho bà N sở hữu sử dụng sau khi cả hai nhận đủ số tiền mà bà N có nghĩa vụ thanh toán.
* Theo bản tự khai của bà Tô Thị Ngọc H và biên bản làm việc với bà H vào ngày 02/12/2020; Bản tự khai của bà Đặng Ngọc H1 và biên bản làm việc với bà H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Tô Ngọc C1:
Về nhân thân, huyết thống và về các mối quan hệ anh chị em trong gia đình của các bà đúng như lời trình bày của bà N.
Về di sản cụ T4 và cụ H3 để lại đúng như lời trình bày của bà N. Từ khi cụ T4 và cụ H3 chết cho đến nay thì di sản của cụ T4 và cụ H3 do bà C quản lý, sử dụng và hiện tại các bà cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà N, đồng ý với việc bà N rút yêu cầu về việc chia nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà). Các bà đề nghị chia theo quy định của pháp luật và xin được nhận di sản bằng tiền, trường hợp bà C không có nhu cầu sử dụng nhà đất thì các bà cùng với các đồng thừa kế còn lại sẽ nhận và thanh toán bằng tiền phần bà C được hưởng lại cho bà C.
Các bà đề nghị Tòa án căn cứ theo khung giá của UBND tỉnh Đ để giải quyết vụ án.
* Theo bản tự khai, biên bản làm việc và lời trình bày của bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2:
Bà Trang Thị T và ông Tô Ngọc P1 kết hôn với nhau vào năm 1991 (có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre). Bà T và ông P1 chỉ có một người con chung là chị Tô Ngọc H2, sinh năm 2005 và đến năm 2009 thì ông P1 chết. Ngoài chị H2 thì ông P1 không còn người con nào khác, kể cả con nuôi và con riêng.
Về nhân thân, huyết thống và về các mối quan hệ anh chị em trong gia đình của ông P1, bà T và chị H2 xác định đúng như lời trình bày của bà N. Cả hai cũng xác định về di sản cụ T4 và cụ H3 để lại đúng như lời trình bày của bà N. Từ khi cụ T4 và cụ H3 chết cho đến nay thì di sản của cụ T4 và cụ H3 do bà C quản lý sử dụng, bà T và chị H2 cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà N, đồng ý với việc bà N rút yêu cầu về việc chia nguồn lợi tuất phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà). Bà T và chị H2 đề nghị chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật và xin được nhận di sản bằng tiền, trường hợp bà C không có nhu cầu sử dụng nhà đất thì cả hai cùng với các đồng thừa kế còn lại sẽ nhận và thanh toán bằng tiền phần bà C được hưởng lại cho bà C.
Bà T và chị H2 cũng đề nghị Tòa án căn cứ theo khung giá của UBND tỉnh Đ để giải quyết vụ án.
* Theo bản tự khai và biên bản làm việc ông Nguyễn Văn D - người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1 và cũng là người đại diện theo ủy quyền những người thừa kế thế vị khác gồm các ông/bà: Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Thanh V2, Trịnh Thị Tuyết M1 và chị Nguyễn Thị Kim N1 (người thừa kế của ông Nguyễn Văn T3 - chết năm 2006 cũng là một trong những người thừa kế thế vị) cũng như lời trình bày tại biên bản làm việc vào ngày 06/7/2023 của bà Nguyễn Thị Tuyết V1:
Về nhân thân, huyết thống và về các mối quan hệ anh chị em trong gia đình của ông Nguyễn Thành T1 cũng như các con của ông Trương Đ như lời trình bày của bà N.
Về di sản cụ T4 và cụ H3 để lại đúng như lời trình bày của bà N. Từ khi cụ T4 và cụ H3 chết cho đến nay thì di sản của cụ T4 và cụ H3 do bà C quản lý sử dụng và hiện tại các ông bà cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà N, đồng ý với việc bà N rút yêu cầu về việc chia nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà). Các ông bà đề nghị chia theo quy định của pháp luật và xin nhận phần di sản mà ông T1 được hưởng từ cụ H3. Các ông bà xin được nhận di sản bằng tiền, trường hợp bà C không có nhu cầu sử dụng nhà đất thì các ông bà cùng với các đồng thừa kế còn lại sẽ nhận và thanh toán bằng tiền phần bà C được hưởng lại cho bà C.
Các ông bà đề nghị Tòa án căn cứ theo khung giá của UBND tỉnh Đ để giải quyết vụ án.
* Theo lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ K:
Ông có cùng ý kiến và cũng thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Đình Thái V.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tô Thị N đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bà N và ông Nguyễn Đình Thái V nên không phát biểu gì thêm.
* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Tô Ngọc C đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bà N và ông Nguyễn Đình Thái V nên không phát biểu gì thêm.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về đường lối giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Tô Thị N và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu chia di sản thừa kế (Nhóm nguyên đơn): chia di sản thừa kế theo pháp luật và chia theo hiện trạng đo vẽ thực tế tại Trích lục bản đồ địa chính năm 2017 làm cơ sở giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự là nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (các đồng thừa kế) đã thống nhất phương án phân chia di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Phần diện tích đất được xem xét chia thừa kế (sau khi trừ phần đất lấn ranh, phần đất xây mộ) là 1.152,4 m² tại thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai được chia như sau:
- Cụ H3 được nhận phần đất 576,2 m² do cụ H3 chết không để lại di chúc nên chia làm 07 phần bằng nhau gồm: cụ T4, bà H, bà C1, ông P1 (đã chết năm 2009, vợ là Trang Thị T và con gái là Tô Ngọc H2 hưởng thừa kế của ông P1), bà N, bà C và những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1 (gồm: Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn T3 (chết năm 2006 nên vợ con được kế thừa quyền hưởng di sản), Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Thanh V2)vàmỗi người được nhận phần đất diện tích 82,314m² từ cụ H3.
- Cụ T4 có 658,514m² (trong đó phần cụ T4 là 576,2m² + phần được hưởng từ cụ H3 82,314m²). Trích 93,4m² phần diện tích đất (tính theo tổng diện tích đất căn nhà tọa lạc) cho bà C thờ cúng cha mẹ, phần diện tích còn lại chia đều cho 05 người con gồm bà H, bà C1, ông P1 (đã chết năm 2009 nên vợ là bà Trang Thị T và con gái là Tô Ngọc H2 hưởng thừa kế của ông P1), bà N, bà C thì mỗi người được nhận phần đất diện tích 113,022m² từ cụ T4.
Do phần đất được chia không đủ điều kiện tách thửa theo quy định và các bên thống nhất giao bà N nhận tài sản là phần diện tích đất nêu trên cùng với căn nhà do bà C và chồng là ông Vũ K xây dựng trên đất, bà N có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị đất theo đơn giá 35.000.000đ/m² cho các đồng thừa kế, thanh toán lại cho bà C và ông K giá trị căn nhà với số tiền là 1.583.582.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.
Tại phiên tòa, bà N rút yêu cầu chia lợi nhuận thu được từ việc cho thuê mặt bằng nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này.
- Về án phí dân sự và chi phí tố tụng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1. Bà Tô Thị Ngọc H; bà Đặng Ngọc H1 (là người đại diện theo ủy quyền của bà Tô Ngọc C1 và bà Nguyễn Thị Tuyết V1 có đơn xin vắng mặt khi xét xử. Riêng ông Nguyễn Văn D, mặc dù đã được Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa ông D vẫn vắng mặt nên căn cứ theo qui định tại các Điều 207, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án xét xử vắng mặt các đương sự trên.
1.2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai có đưa Công ty TNHH M4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, tại phiên tòa ông Nguyễn Đình Thái V (người đại diện theo ủy quyền của bà Tô Ngọc C) xác định hiện bà C không còn cho Công ty TNHH M4 thuê mặt bằng kinh doanh, do vậy nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải đưa Công ty TNHH M4 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
1.3. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai có đưa chị Vũ Ngọc Diễm T5 và chị Vũ Ngọc Hiếu T6 con của bà Tô Ngọc C và ông Vũ K vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, do chị T5 và chị T6 đều xác định căn nhà số A (số cũ 216), đường P, khu phố B, phường T, thành phố B do bà C và ông K xây dựng, chị T5 và chị Tó không có đóng góp gì vào việc xây dựng căn nhà nên Hội đồng xét xử xét thấy cũng không cần thiết phải đưa chị T5 và chị T6 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ theo quy định của pháp luật thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Do vậy, bà Tô Thị N nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào năm 2017 là vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Theo nội dung khởi kiện của bà Tô Thị N:
Cụ Tô Văn T4 (sinh năm 1914, chết năm 2002) và cụ Lê Thị H3 (sinh năm 1915, chết năm 1999) kết hôn với nhau từ năm 1939. Quá trình chung sống cụ T4 và cụ H3 sinh được 05 người con gồm: Tô Thị Ngọc H, Tô Ngọc C1, Tô Ngọc P1 (chết năm 2009, có vợ là Trang Thị T và có 01 người con là Tô Ngọc H2), Tô Thị N và Tô Ngọc C. Ngoài ra cụ T4 không có con nuôi, con riêng cũng như con ngoài giá thú. Riêng cụ H3 thì có 01 người con riêng tên Nguyễn Thành T1 (sinh năm 1934, chết năm 1969), ông T1 có vợ là bà Nguyễn Thị X (sinh năm 1938) và có 08 người con chung với bà X gồm: Nguyễn Văn M2 (sinh năm 1957 và đã chết từ khi còn nhỏ), Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (chết năm 2006, có vợ là Trịnh Thị Tuyết M1 và có 01 con là Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 (ngoài những người con trên ông T1 không còn người con nào khác kể cả con riêng, con nuôi và con ngoài giá thú).
Nguồn gốc phần đất diện tích 1.254,4m² thuộc thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . hiện bà Tô Thị N đang tranh chấp thừa kế với bà Tô Ngọc C là do cụ H3 thừa kế từ cha mẹ từ trước năm 1975. Năm 1999, cụ H3 chết không để lại di chúc. Năm 2002, cụ T4 có lập di chúc phân chia tài sản (Di chúc lập ngày 02/4/2002, Công chứng số 40, quyển số 05 tại Phòng C2 tỉnh Đồng Nai).
Do nhiều lần các chị em trong gia đình đề nghị bà C thực hiện việc phân chia di sản thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . nhưng bà C không đồng ý nên bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N xác định chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP. theo pháp luật cho các anh chị em trong gia đình. Riêng căn nhà tọa lạc trên thửa đất là do bà C và chồng bà C là ông Vũ K xây dựng nên bà N không yêu cầu chia.
Tại phiên tòa, bà N có ý kiến về việc chia thừa kế thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . như sau:
Căn cứ theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 3453/2020 ngày 30/6/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B thì thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo BĐĐC có diện tích là 1.254,4m², tuy nhiên hiện trạng thực tế sử dụng chỉ còn là 1.152,4m² do có 02m² bị các thửa lân cận lấn chiếm và 100m² là đất thổ mộ của gia tộc, vì vậy bà N chỉ đề nghị chia thừa kế đối với phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m².
Dựa theo một phần di nguyện của ông T4 tại di chúc được ông Thành lập vào ngày 02/4/2002 và căn cứ theo quy định pháp luật, bà N đề nghị chia như sau:
Bà N xin được quản lý, sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo BĐĐC có diện tích 1.254,4m², theo hiện trạng thực tế là 1.252,4m² (trong đó có phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² và phần diện tích đất thổ mộ là 100m²). Bà N đồng ý thanh toán lại cho các đồng thừa kế giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng đối với phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² với mức giá 35.000.000 đồng/m² (trong đó phần bà N được hưởng là 195,336m², gồm 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4), cụ thể như sau:
- - Thanh toán cho bà Tô Ngọc C số tiền 10.105.760.000 đồng (tương đương với giá trị phần diện tích đất bà C được hưởng là 288,736m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3, 113,022m² từ cụ T4 và 93,40m² trích riêng cho bà C dựa theo di chúc của cụ T4 do bà C phải thờ cúng cha mẹ).
- - Thanh toán cho bà Tô Thị Ngọc H số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với giá trị phần diện tích đất bà H được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho bà Tô Ngọc C1 số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với giá trị phần diện tích đất bà C1 được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2 (vợ và con của ông Tô Ngọc P1) số tiền 6.836.760.000 đồng (tương đương với giá trị phần diện tích đất ông P1 được hưởng là 195,336m², trong đó có 82,314m² từ cụ H3 và 113,022m² từ cụ T4).
- - Thanh toán cho những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1 gồm các ông/bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (người thừa kế của ông T3 là bà Trịnh Thị Tuyết M1 và chị Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 số tiền 2.880.990.000 đồng (tương đương với giá trị phần diện tích đất 82,314m² ông T1 được hưởng từ cụ H3).
Ngoài ra, bà N cũng xin được sở hữu căn nhà do bà C và chồng bà C là ông Vũ K xây dựng trên thửa đất có diện tích xây dựng là 411,32m². Bà N đồng ý thanh toán lại cho bà C và ông K giá trị căn nhà theo giá thị trường tại Chứng thư thẩm định giá số 1870/T ĐG-CT ngày 14/7/2020 của Công ty Cổ phần T8 với số tiền 1.583.582.000 đồng.
Bà N cam kết sẽ thanh toán toàn bộ số tiền các đồng thừa kế được hưởng chậm nhất là vào ngày 31/12/2025. Sau ngày 31/12/2025, nếu bà N chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, thì bà N đồng ý chịu lãi suất cho các đồng thừa kế theo quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế là nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà) nay bà N xin rút, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Qua ý kiến về việc phân chia di sản thừa kế như trên của bà N, ông Nguyễn Đình Thái V là người đại diện theo ủy quyền của bà Tô Ngọc C cũng đồng ý. Nhận thấy việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giữa các đương sự phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận trên.
[5] Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà C quản lý, sử dụng di sản (tức số tiền bà C cho thuê nhà), tại phiên tòa bà N xin rút và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu trên.
[6] Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền chi phí cho việc đo đạc, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản bà N đã nộp là 256.127.609 đồng. Căn cứ theo tỷ lệ kỷ phần thừa kế các đương sự được chia, số tiền cần buộc các đương sự phải thanh toán lại cho bà N cụ thể như sau:
- - Buộc bà Tô Ngọc C phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng.
- - Buộc bà Tô Thị Ngọc H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng.
- - Buộc bà Tô Ngọc C1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng.
- - Buộc bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng.
- - Buộc những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1 gồm các ông/bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (người thừa kế của ông T3 là bà Trịnh Thị Tuyết M1 và chị Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Thị N số tiền 21.343.967 đồng.
[7] Về án phí DS-ST: Do các đương sự là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ cho các đương sự theo quy định. Hoàn trả lại cho bà N số tiền 13.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003663 ngày 15/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
[8] Ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N cũng như ý kiến của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà C phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa và đình chỉ giải quyết do đương sự rút yêu cầu đối với việc chia lợi nhuận thu được từ việc cho thuê mặt bằng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 203, 220, 207, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào các Điều 609, 623, 649, 650, 651, 660 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị N đối với bị đơn bà Tô Ngọc C về việc chia di sản thừa kế phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² thuộc một phần thửa đất số 87, tờ bản đồ 02, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ghi nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bà Tô Thị N và người đại diện theo ủy quyền của bà Tô Ngọc C là ông Nguyễn Đình Thái V: Giao cho bà Tô Thị N quản lý, sử dụng thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . theo hiện trạng thực tế có diện tích 1.252,4m² được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 21, 12, 13, 14, 15, 16, 17,18, 19, 1 (trong đó có phần diện tích đất thực tế sử dụng là 1.152,4m² được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 20, 7, 21, 12, 13, 14, 15, 16, 17,18, 19, 1 và phần diện tích đất thổ mộ là 100m² chưa chia được giới hạn bởi các mốc 4, 5, 6, 7, 20, 4 theo Bản đồ hiện trạng khu đất số 3453/2020 ngày 30/6/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh B).
- Bà Tô Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng cụ thể như sau:
- 2.1. Thanh toán cho bà Tô Ngọc C số tiền 10.105.760.000 đồng (Mười tỷ một trăm lẻ năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 2.2. Thanh toán cho bà Tô Thị Ngọc H số tiền 6.836.760.000 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 2.3. Thanh toán cho bà Tô Ngọc C1 số tiền 6.836.760.000 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 2.4. Thanh toán cho bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2 (vợ và con của ông Tô Ngọc P1) số tiền 6.836.760.000 đồng (Sáu tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 2.5. Thanh toán cho những người thừa kế thế vị của ông Nguyễn Thành T1 gồm các ông/bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (người thừa kế của ông T3 là bà Trịnh Thị Tuyết M1 và chị Nguyễn Thị Kim N1), Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 số tiền 2.880.990.000 đồng (Hai tỷ tám trăm tám mươi triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng).
- Giao bà Tô Thị N sở hữu 01 (một) căn nhà ở gia đình diện tích xây dựng 411,32m² có kết cấu: Móng, cột, đà kiềng, sàn bê tông cốt thép; T7 gạch, tô trát, sơn nước; Nền ốp gạch ceramic; M3, trần bê tông cốt thép; Cửa chính: Cửa sắt kéo, phía trong cửa kính, cửa phòng + cửa số khung sắt kính; Khu bếp: Thành khung sắt + nhựa P2, kệ bếp đặt tấm đá granite; Khu vệ sinh: nền gạch ceramic nhám, tường ốp gạch ceramic cao 1,7m, xí bệt, lavabo, cửa nhựa; Cầu thang: Khung dầm bê tông cốt thép, lan can + tay vịn sắt, tọa lạc trên thửa đất số 87, tờ bản đồ số 02 phường T, TP . (thể hiện theo Chứng thư Thẩm định giá số 1870/TĐG-CT ngày 14/7/2020 của Công ty Cổ phần T8).
- 3.1. Bà Tô Thị N phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Tô Ngọc C và ông Vũ K giá trị căn nhà trên với số tiền 1.583.582.000 đồng (Một tỷ năm trăm tám mươi ba triệu năm trăm tám mươi hai nghìn đồng).
- 3.2. Bà Tô Thị N có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kê khai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Thị N về việc chia di sản thừa kế về nguồn lợi tức phát sinh từ việc cho thuê tài sản trên đất trong khoảng thời gian bà Tô Ngọc C quản lý, sử dụng di sản (số tiền bà C cho thuê nhà).
- Về chi phí tố tụng:
- 5.1. Buộc bà Tô Ngọc C phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng (Bốn mươi sáu triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).
- 5.2. Buộc bà Tô Thị Ngọc H phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng (Bốn mươi sáu triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).
- 5.3. Buộc bà Tô Ngọc C1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng (Bốn mươi sáu triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).
- 5.4. Buộc bà Trang Thị T và chị Tô Ngọc H2 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Tô Thị N số tiền 46.956.728 đồng (Bốn mươi sáu triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).
- 5.5. Buộc những người thừa kế thế vị (con của ông Nguyễn Thành T1) gồm các ông/bà: Nguyễn Văn D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn T3 (chết năm 2006 – có vợ là bà Trịnh Thị Tuyết M1 và con là Nguyễn Thị Kim N1),Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị Tuyết V1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Thị Thanh V2 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Tô Thị N số tiền 21.343.967 đồng (Hai mươi mốt triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn chín trăm sáu mươi bảy đồng).
- Về án phí DS-ST: Các đương sự được miễn theo quy định. Hoàn trả lại cho bà Tô Thị N số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003663 ngày 15/02/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
- Kể từ ngày 01/01/2026, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo qui định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thảo |
Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp di sản thừa kế
- Số bản án: 08/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tô Thị N - Tô Ngọc C - Tranh chấp di sản thừa kế
