Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN,

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DS-ST

Ngày: 08/4/2025

V/v: "Tranh chấp đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân Ông Phạm Hữu Ái và bà Trà Thị Thanh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Chí Công – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 42/2023/TLST-DS, ngày 27 tháng 3 năm 2023, về việc: “Tranh chấp đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lưu Đình C, sinh năm: 1978. Địa chỉ: ½ P, nhà A, khu tập thể K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội. (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức X, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 2000. Địa chỉ: khu phố H, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Văn H trình bày: Cuối năm 2021, ông Lưu Đình C có nhận chuyển nhượng thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021. Sau đó, ông C đã được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động, chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.

Khi nhận chuyển nhượng đất thì chủ đất cũ có trồng ranh giới bằng trụ bê tông, rào kẽm gai; trên đất có trồng cây keo. Đến khoảng tháng 5/2022 thì ông C khai thác cây keo trên đất và khoảng hơn 01 tháng sau (giữa tháng 6/2022) thì phát hiện ông X đã lấn chiếm của ông C khoảng 240m² (bị mất các trụ bê tông làm hàng rào). Sau khi ông C yêu cầu và được UBND xã S tổ chức hòa giải, giải quyết nhưng hòa giải không T1. Do đó, ông C yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Đức X phải trả lại cho ông Lưu Đình C phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích khoảng 240m².

Sau khi Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và kết hợp việc đo đạc thì phía nguyên đơn xác định lại phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.

Tại biên bàn hòa giải ngày 28 tháng 5 năm 2024 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Vào trước năm 1980, gia đình ông X có khai hoang và canh tác một trên khu đất thuộc thửa đất số 190, tờ bản đồ số 20 với tổng diện tích là 4.029,7 m² sau đó được điều chỉnh thành thửa đất số thửa 01, tờ bản đồ 08 diện tích 4.976m² theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T 795109, số vào số cấp GCN Quyền sử dụng đất số 911QSDĐ/ do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 03 tháng 07 năm 2002 tọa lạc tại địa chỉ thôn A, Xã S, Huyện H, Tỉnh Bình Thuận. Thửa đất nêu trên được gia đình ông X sử dụng ổn định hơn 40 năm qua, có ranh giới rõ ràng và không bị ai tranh chấp hay khiếu nại từ đó cho đến nay.

Tuy nhiên hiện nay, nguyên đơn khởi kiện và tiến hành đo đạc lại thì ông X phát hiện ra trước đây vào năm 2006, Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận đã cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 672945, có diện tích diện tích 3.235m² thuộc thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 cho ông Phạm Nhật T đã chồng lấn lên diện tích đất mà ông X đang sử dụng thực tế và đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T 795109 với diện tích đất chồng lấn là 231.3m².

Đến ngày 10/05/2021, ông Phạm Nhật T chuyển nhượng sang cho ông Nguyễn Thanh H2 và sau đó ông Nguyễn Thanh H2 chuyển nhượng lại diện tích đất nêu trên cho ông Lưu Đình C và được đăng ký cập nhật biến động vào ngày 30/12/2021 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Bình Thuận. Khi các bên chuyển nhượng đất thì không đo đạc lại ranh giới đất sử dụng trên thực tế mà còn làm giả chữ ký của ông X trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất. Việc Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Phạm Nhật T với diện tích 3.235m² trong đó có phần diện tích đất 231.3m² chồng lấn lên diện tích đất mà ông X đang trực tiếp sử dụng trên thực tế và được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hơn 40 năm qua là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông X. Do vậy, ông X đề nghị Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 (đối với phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 231,3m²).

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Đức X phải lại cho ông Lưu Đình C phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023.

Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự, ông Lưu Đình C được quyền sử hữu 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm tuổi, gắn liền với phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mành trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 và hỗ trợ cho ông Nguyễn Đức X số tiền 2.147.900đồng.

Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của tòa án: Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp đất đai”; Bị đơn và đối tượng tranh chấp là bất động sản đều thuộc thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện H theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Phần đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mành trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023, thuộc thôn A, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Việc ông Lưu Đình C nhận chuyển nhượng thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021. Sau đó, ông C đã được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động, chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021 là đúng quy định pháp luật. sau khi nhận chuyển nhượng đất thì chủ đất cũ có trồng ranh giới bằng trụ bê tông, rào kẽm gai; trên đất có trồng cây keo. Đến khoảng tháng 6/2022, sau khi ông C khai thác cây keo trên đất thì phát hiện ông X đã lấn chiếm của ông C. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Nguyễn Đức X phải trả lại cho ông Lưu Đình C phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.

Tại văn bản số 102/UBND-TNMT ngày 09/01/2025 của UBND huyện H đã xác định, có nội dung: Phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía bị đơn giữ nguyên nội dung đã trình bày tại đơn phản tố với nội dung: Yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 (đối với phần diện tích đất lấn chiếm có diện tích 231,3m²). Tuy nhiên, bị đơn không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh nên Tòa án không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn mà chỉ xem đây là lời trình bày của bị đơn.

[4.1] Xét lời trình bày của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía bị đơn đều căn cứ Bản đồ vị trí của thửa đất số thửa 01, tờ bản đồ 08 với diện tích 4.976m² ngày 01 tháng 3 năm 2002 để làm chứng cứ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp của bị đơn. Tuy nhiên, qua thẩm tra xác định Bản đồ vị trí (phô tô) của thửa đất số thửa 35 (không phải thửa 01 như phía bị đơn trình bày), tờ bản đồ 08 với diện tích 4.976m² ngày 01 tháng 3 năm 2002 mà bị đơn làm chứng cứ thì không có chữ ký, đóng dấu của cơ quan Quản lý đất đai nên không có giá trị pháp lý để xem xét, đánh giá.

[4.2] Xét thời điểm cấp Bản đồ vị trí của thửa đất số thửa 35, tờ bản đồ 08 vào ngày 01 tháng 3 năm 2002 là trước thời điểm cấp Bản đồ vị trí của thửa đất số thửa 190, tờ bản đồ 20 ngày 23 tháng 5 năm 2022, kèm theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T 795109. Do đó, phía bị đơn là ông X cho rằng thửa đất số 190, tờ bản đồ số 20 với tổng diện tích là 4.029,7m²; sau đó được điều chỉnh thành thửa đất số thửa 01, tờ bản đồ 08 diện tích 4.976m² theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số T 795109, số vào số cấp GCN Quyền sử dụng đất số 911QSDĐ/ do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 03 tháng 07 năm 2002 tọa lạc tại địa chỉ thôn A, Xã S, Huyện H, Tỉnh Bình Thuận.

[4.3] Bị đơn là ông X cho rằng ông đã trực tiếp sử dụng đất trên thực tế hơn 40 năm và được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nên việc Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Phạm Nhật T với diện tích 3.235m² trong đó có phần diện tích đất 231.3m² chồng lấn lên diện tích đất mà ông X đang trực tiếp sử dụng đất. Tuy nhiên, ông X không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh mà ông chỉ đưa ra tài liệu, chứng cứ duy nhất là Bản đồ vị trí (phô tô) của thửa đất số thửa 01, tờ bản đồ 08 với diện tích 4.976m² ngày 01 tháng 3 năm 2002 là không có căn cứ để chấp nhận như đã phân tích tại mục [5.1] và [5.2] nêu trên.

[4.4] Tại thời điểm ông Phạm Nhật T chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và ông Nguyễn Thanh H2 chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021 thì diện tích đất chuyển nhượng nêu trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp nên việc bị đơn cho rằng khi các bên chuyển nhượng đất, sang tên thì phải đo đạc lại ranh giới đất sử dụng là không cần thiết. Ngoài ra, ông X cho rằng làm giả chữ ký của ông trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất nhưng ông X không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Đồng thời, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông X nên không có cơ sở để xem xét.

[4.5] Xét tính hợp pháp của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Tại văn bản số 102/UBND-TNMT ngày 09/01/2025 của UBND huyện H đã thể hiện: Đối chiếu hồ sơ lưu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp so với các quy định pháp luật liên quan tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006 và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 795109, do Ủy ban nhân dân huyện H cho ông Nguyễn Đức X ngày 03 tháng 07 năm 2002 là đúng đối tượng và đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật đất đai.

[5] Về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18 tháng 8 năm 2023 và kết quả định giá tài sản tranh chấp ngày 07/3/2025, đã xác định tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tranh chấp là có diện tích 231,3m², bao gồm: 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm tuổi, có giá: 2.147.900đồng; 01 Xăng mã (mọc tự nhiên tại ranh giới đất) có giá 596.300đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm tuổi do ông X trồng trên phần đất tranh chấp, chưa đến thời điểm thu hoạch mà nếu phải nhổ bỏ thì tốn chi phí nhổ cây và mất giá trị của cây keo tràm, gây ra thiệt hại về tài sản. Do đó, nguyên đơn đã tự nguyện hỗ trợ lại giá trị cây keo tràm cho ông X theo biên bản định giá là phù hợp với quy định pháp luật. Đây là tự nguyện của nguyên đơn và sự tự nguyện này là có lợi cho bị đơn nên cần được chấp nhận.

Riêng 01 cây Xăng mã, mọc tự nhiên tại ranh giới đất giữa hai bên; các đương sự không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Đức X phải lại cho ông Lưu Đình C phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.

Ghi nhận sự tự nguyện của đương sự, ông Lưu Đình C được quyền sử hữu 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm tuổi, gắn liền với phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 và hỗ trợ cho ông Nguyễn Đức X số tiền 2.147.900đồng.

[7] Về án phí, chi phí tố tụng:

[7.1] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7.2] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu tất cả chi phí tố tụng, bao gồm: Chi phí đo đạc, định giá, thẩm định. Phía nguyên đơn đã nộp đủ, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ:

- Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 170, Điều 188, Điều 203 Luật Đất đai 2013;

- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Buộc ông Nguyễn Đức X phải lại cho ông Lưu Đình C phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện H cho ông Phạm Nhật T ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh H2 ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình C vào ngày 30/12/2021.(có M trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023 kèm theo).

Ông Lưu Đình C được quyền sử hữu 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm, gắn liền với phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m², tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 và hỗ trợ cho ông Nguyễn Đức X số tiền 2.147.900đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2/ Về án phí: Ông Nguyễn Đức X phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Lưu Đình C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.500.000đồng theo biên lai thu số 0010621 ngày 23/3/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Tân.

Án xử công khai, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Án có hiệu lực theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b,9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Tân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Đình Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai

  • Số bản án: 08/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. - Buộc ông Nguyễn Đức Xuân phải lại cho ông Lưu Đình Cường phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m2, tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Tân ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 do UBND huyện Hàm Tân cấp cho ông Phạm Nhật Trần ngày 01/3/2006; được cập nhật chuyển nhượng sang tên cho ông Nguyễn Thanh Hùng ngày 10/5/2021 và tiếp tục chuyển nhượng sang tên cho ông Lưu Đình Cường vào ngày 30/12/2021.(có Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Tân ngày 31 tháng 10 năm 2023 kèm theo). - Ông Lưu Đình Cường được quyền sử hữu 47 cây keo tràm từ 04 - 05năm, gắn liền với phần diện tích đất tranh chấp có diện tích 231,3m2, tương ứng với các vị trí 3-4-7-8-3 theo Mảnh trích đo hiện trạng khu đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hàm Tân ngày 31 tháng 10 năm 2023; thuộc một phần của thửa đất số 196, tờ bản đồ số 04 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số AD 672945 và hỗ trợ cho ông Nguyễn Đức Xuân số tiền 2.147.900đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger