Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DS-ST

Ngày: 05/03/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Phương;

Ông Nguyễn Thế Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 175/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025; quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐST-DS ngày24/02/2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng T (viết tắt ngân hàng TMCP S).

Địa chỉ: 2 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu B – sinh năm 1987 - chuyên viên khách hàng – Phòng G, tỉnh Phú Yên (theo giấy ủy quyền số 25/2024/GUQ-PGDTHD ngày 29/7/2024; quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng giám đốc ngân hàng TMCP T v/v ký hợp đồng, thoản thuận, văn bản và tham gia tố tụng); Có mặt.

Địa chỉ: 3 T, phường A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

- Bị đơn: Ông Đào Minh V, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 trình bày:

Bị đơn ông Đào Minh V có tự nguyện giao kết hợp đồng phát hành thẻ tiêu dùng tại ngân hàng S chi nhánh P. Sau khi tra thông tin không có nợ xấu và kiểm tra giấy tờ hợp lệ, ngân hàng đã đồng ý phát hành thẻ với số tiền 50.000.000 đồng, số hợp đồng 2382529, ký vào ngày 09/11/2022 với mức lãi suất thỏa thuận 33,2%/năm, lãi quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Mức lãi suất này có niêm yết công khai trên trang thông tin điện tử của ngân hàng. Vào ngày 15/11/2022, ngân hàng đã giải ngân cho ông V vay số tiền 50.000.000 đồng, ông V chỉ rút sử dụng số tiền 40.000.000 đồng, đã trả lãi được 6 kỳ từ tháng 01/2023 đến tháng 7/2023 thì ngưng thanh toán. Sau 03 kỳ liên tiếp bị đơn không thanh toán nên vào ngày 15/10/2023 ngân hàng đã chuyển số sợ trên sang nợ quá hạn. Tính đến ngày khởi kiện 29/7/2024 bị đơn còn nợ của ngân hàng số tiền 63.949.388 đồng, trong đó gốc 45.778.844 đồng, lãi 18.170.544 đồng.

Tòa án đã triệu tập bị đơn nhiều lần, nhưng đều vắng mặt không tham gia tố tụng.

Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa nhưng bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử (05/3/2025) là 77.814.716 đồng (trong đó nợ gốc 45.778.844 đồng, nợ lãi 32.035.872 đồng) và lãi phát sinh tiếp theo.

Bị đơn vắng mặt không trình bày ý kiến.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý đến khi xét xử, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đều tuân thủ đúng quy định pháp luật. Đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật, riêng bị đơn chấp hành không đúng; Về đề xuất giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn số tiền là 77.814.716 đồng, tính đến ngày xét xử sơ thẩm và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng T khởi kiện hợp đồng tín dụng với bị đơn Đào Minh V có địa chỉ tại huyện P, tỉnh Phú Yên. Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tòa án căn cứ theo Điều 227, 228 BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Bị đơn không thực hiện hợp đồng tín đụng đã giao kết là vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ sau ngày 15/10/2023, ngân hàng có đơn khởi kiện vào ngày 01/10/2024 là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 429 BLDS 2015.

[3] Về nội dung vụ án: Xét các yêu cầu khởi kiện trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng:

Giữa nguyên đơn và bị đơn Đào Minh V có tự nguyện giao kết với nhau bằng hợp đồng phát hành thẻ tín dụng cá nhân số 2382529 vào ngày 09/11/2022, lãi suất cho vay 33,2%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn Đào Minh V đã rút tiền sử dụng cá nhân 40.000.000 đồng, thực hiện trả lãi được 06 kỳ, từ ngày 15/01/2023 đến ngày 15/7/2023, sau đó không tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cả gốc và lãi theo thỏa thuận phải trả hàng tháng là vi phạm nội dung thỏa thuận.

Tại điều 5 về điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân có nội dung: Việc không thanh toán số tiền tối thiểu tại thông báo giao dịch hiện tại cho đến kỳ tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm hợp đồng, khi vi phạm xảy ra, S2 có quyền chấm dứt sử dụng thẻ và thu hồi dư nợ, áp dụng lãi suất quá hạn, tiến hành khởi kiện.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi nợ gốc và lãi phát sinh từ hợp đồng tín dụng, trong đó việc tính lãi của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91, 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 100, 102, 103 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 nên được chấp nhận.

Bị đơn mặc dù được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần, nhưng vắng mặt tại phiên tòa là cố tình vắng mặt và từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình.

[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của BLTTDS và Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với số tiền 3.891.000 đồng.

[5] Đối với các đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 227, 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.

Căn cứ vào các Điều 100, 103, 210 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng TMCP T về việc yêu cầu ông Đào Minh V phải thực hiện hợp đồng tín dụng.

Buộc ông Đào Minh V phải có nghĩa vụ trả toàn bộ một lần số tiền 77.814.716 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm mười bốn nghìn bảy trăm mười sáu đồng) (trong đó nợ gốc 45.778.844 đồng, nợ lãi 32.035.872 đồng) cho nguyên đơn ngân hàng TMCP T.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Đào Minh V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi, lãi suất quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Ông Đào Minh V phải chịu 3.891.000 đồng (Ba triệu tám trăm chín mươi mốt nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP T số tiền 1.599.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi chín nghìn đồng chẵn) đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0004859 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trương Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng T với bị đơn Đào Minh V về nợ hợp đồng tín dụng không trả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger