Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 08/2025/DS-PT

Ngày: 25/02/2025

“V/v Yêu cầu tháo dỡ công trình

trên đất và tranh chấp QSD đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà

Các Thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm

Ông Phạm Cao Gia

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Công, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 100/2024/TLPT-DS, ngày 25 tháng 12 năm 2024, về việc “Yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và tranh chấp QSD đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXPT-DSST ngày 17 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ông Lâm Thái P, sinh năm 1964; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phạm Hồng P1, Luật sư ký hợp đồng Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.

Đều có mặt.

- Bị đơn: Ông Lâm Thái S, sinh năm 1970; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Lâm Thái T, sinh năm 1979; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Đều có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị Tú V, sinh năm 1972; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1965; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  1. Bà Lâm Thúy P2, sinh năm 1991; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  2. Ông Lâm Thái P3, sinh năm 1993; Trú tại: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lâm Thái S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết nguyên đơn ông Lâm Thái P trình bày:

Ông Lâm Thái P sử dụng diện tích đất thửa 557, tờ bản đồ số 6, diện tích 610m² tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy CNQSDĐ) số G74183 ngày 24/5/1997; Nguồn gốc đất trước giải phóng là của cha mẹ ông P sử dụng, khoảng năm 1977 đất được cha mẹ ông P đưa vào hợp tác xã, đến năm 1997 ông P được UBND huyện cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP.

Quá trình sử dụng đất, khoảng năm 2016 gia đình ông P đi làm thuê ở Bình Dương thì ông Lâm Thái S lợi dụng sự vắng mặt của gia đình ông P, ông S đã tự ý xây dựng trại bằng gạch như hiện nay mục đích chứa rơm phục vụ chăn nuôi và xây dựng hàng rào bê tông xung quanh thửa đất.

Trước đây ông Lâm Thái S khởi kiện vụ án hành chính về yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số G74183 ngày 24/5/1997 do UBND huyện T cấp cho gia đình ông P, vụ án này đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm tại Bản án số 35/2022/HC-ST ngày 19/9/2022 và tại Bản án phúc thẩm số 156/2023/HC-PT của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng, theo đó đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Thái S.

Nay ông Lâm Thái P yêu cầu ông Lâm Thái S phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng gồm trại xây bằng gạch và hàng rào lưới B40 xung quanh thửa đất; Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lâm Thái S về việc trả lại công trình gắn liền với QSD đất 182m² trong thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị L và bà Lâm Thúy P2, Lâm Thái P3 thống nhất theo khởi kiện và ý kiến trình bày của nguyên đơn ông Lâm Thái P

Bị đơn ông Lâm Thái S và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2022/HC-ST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và tại Bản án hành chính phúc thẩm số 156/2023/HC-PT của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Thái S về việc khởi kiện yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất số G74183 do UBND huyện T cấp ngày 24/5/1997 đối với thửa đất số 557, tờ bản đồ 6, diện tích 610m² cấp cho hộ ông Lâm Thái P. Tuy nhiên, ông Lâm Thái S vẫn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tháo dỡ công trình trên đất; Bởi lẽ: Ông S cho rằng nguồn gốc thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, diện tích 610m² tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên trước đây là của cha mẹ ông Lâm Thái S tên Lâm Thái H, bà Lê Thị G, khi còn sống năm 1990 cha mẹ ông Lâm Thái S chia cho ông S và ông Lâm Thái P mỗi người một phần diện tích để sử dụng nhưng đến năm 1997 ông Lâm Thái P lén lút kê khai và được UBND huyện T cân đối cấp quyền sử dụng đất.

Ngược lại bị đơn ông Lâm Thái S yêu cầu ông Lâm Thái P trả lại nhà cấp 4, rào lưới B40 gắn liền với QSD đất diện tích 182m² trong tổng diện tích thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: bà Lê Thị Tú V thống nhất theo ý kiến của ông Lâm Thái S nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: UBND huyện T do ông Nguyễn Văn D đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:

Công trình nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ gắn liền trên thửa đất số 557, tờ số 6, bản đồ 299, diện tích 610m² đã được UBND huyện T cân đối QSD đất cho hộ ông Lâm Thái P, hộ ông P đã được cấp Giấy CNQSDĐ. Việc liên quan đến QSD đất nêu trên trước đây có sự tranh chấp từ ông S, ông S yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất, tuy nhiên đã được giải quyết xong bằng Bản án có hiệu lực pháp luật của TAND tỉnh Phú Yên (Bản án số 35/2022/HC-ST ngày 19/9/2022) và TAND cấp cao tại Đà Nẵng (Bản án số 156/2023/HC-PT ngày 19/5/2023). Vì vậy, ông Lâm Thái P yêu cầu ông Lâm Thái S tháo dỡ công trình trên đất là đúng, đồng thời đề nghị Tòa án bác yêu cầu phản tố liên quan đến tranh chấp QSD đất của bị đơn ông Lâm Thái S.

Diện tích đất đang tranh chấp 182m² hiện nay có mục đích sử dụng đất vườn liền kề đất ở, các công trình đang tồn tại trên đất trái mục đích nhưng được xây dựng trước ngày 01/7/2014 và phù hợp quy hoạch nên được phép tồn tại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tất cả các tài liệu, chứng cứ đều thể hiện diện tích đất 182m² trong tổng diện tích đất thửa số 557, tờ bản đồ số 6, tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình nguyên đơn, do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải tháo dỡ công trình trên đất, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tranh chấp QSD diện tích đất 182m².

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Thái P về tranh chấp “yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

- Giao cho ông Lâm Thái P và các thành viên hộ gia đình gồm: bà Trịnh Thị L và bà Lâm Thúy P2, Lâm Thái P3 cùng được quyền sở hữu toàn bộ ngôi nhà cấp 4, tường xây gạch, mái tole, diện tích xây dựng 19,11m² và toàn bộ hàng rào lưới B40 gắn liền trên diện tích đất 182m² nằm trong thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299, diện tích 610m² thuộc thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên

- Ông Lâm Thái P và các thành viên hộ gia đình gồm: bà Trịnh Thị L và bà Lâm Thúy P2, Lâm Thái P3 có nghĩa vụ liên đới (nghĩa vụ bằng nhau) thanh toán số tiền 25.822.590đ về giá trị tài sản (công trình xây dựng gắn liền trên diện tích đất 182m²nêu trên) cho ông Lâm Thái S, bà Lê Thị Tú V.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lâm Thái S về việc tranh chấp yêu cầu hộ gia đình nguyên đơn ông Lâm Thái P trả lại QSD diện tích đất 182m² nằm trong thửa số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299, diện tích 610m² thuộc thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên có công trình của Lâm Thái S, bà Lê Thị Tú V xây dựng gắn liền trên đất.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 25/9/2024, bị đơn ông Lâm Thái S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Lâm Thái P, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị L, Lâm Thái P3 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cùng người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Bị đơn ông Lâm Thái S cùng người đại diện theo ủy quyền ông Lâm Thái T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX sửa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về vụ án: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn quy định là kháng cáo hợp lệ được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện UBND huyện T, bà Lê Thị Tú V đều có đơn đề nghị vắng mặt, căn cứ Điều 296 của BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn, HĐXX xét thấy: Vào năm 2021, bị đơn ông Lâm Thái S đã khởi kiện vụ án hành chính về việc yêu cầu hủy Giấy CNQSD G74183 do UBND huyện T cấp ngày 24/5/1997 đối với thửa đất số 557, tờ bản đồ 6, diện tích 610m² cấp cho hộ ông Lâm Thái P. Tại các Bản án hành chính sơ thẩm số 35/2022/HC-ST ngày 19/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và Bản án hành chính phúc thẩm số 156/2023/HC-PT của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng đã bác yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Thái S. Tại các bản án này cũng đã nêu rõ về nguồn gốc quyền sử dụng đất các bên đang tranh chấp, trình tự thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ nêu trên của UBND huyện T là đúng pháp luật. Căn cứ điều 92 của BLTTDS năm 2015 thì quyền sử dụng diện tích đất 610m² thuộc thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299 là của hộ gia đình ông Lâm Thái P là tình tiết không cần phải chứng minh. Việc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Thái S, bà Lê Thị Tú V xây dựng các công trình gồm ngôi nhà cấp 4, tường gạch, mái tole, có diện tích 19,11m² và hàng rào lưới B40 gắn trên tổng diện tích 182m² là một phần của diện tích đất 610m² thuộc thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299 đã được UBND huyện T cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Lâm Thái P là không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình nguyên đơn ông Lâm Thái P. Ủy ban nhân dân huyện T đã có văn bản thể hiện: Các công trình đang tồn tại trên đất trái mục đích nhưng được xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 và phù hợp pháp luật nên được phép tồn tại; Do đó, cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn và các thành viên hộ gia đình của nguyên đơn: Phấn, L, P2, P3 có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản cho bị đơn, người liên quan: S, V với số tiền 25.822.590đ và được quyền sở hữu các công trình gắn trên đất là đúng pháp luật.

[3] Từ những căn cứ trên, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâm Thái S, căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS, giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Lâm Thái S kháng cáo không chấp nhận nên phải chịu án phí DSPT

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lâm Thái S; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2024/DSST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Căn cứ vào các Điều 690 của Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 164 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 26 Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Thái P về tranh chấp “yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”.

- Giao cho ông Lâm Thái P và các thành viên hộ gia đình gồm: bà Trịnh Thị L và bà Lâm Thúy P2, Lâm Thái P3 cùng được quyền sở hữu toàn bộ ngôi nhà cấp 4, tường xây gạch, mái tole, diện tích xây dựng 19,11m² và toàn bộ hàng rào lưới B40 gắn liền trên diện tích đất 182m² nằm trong thửa đất số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299, diện tích 610m² thuộc thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên

- Ông Lâm Thái P và các thành viên hộ gia đình gồm: bà Trịnh Thị L và bà Lâm Thúy P2, Lâm Thái P3 có nghĩa vụ liên đới (nghĩa vụ bằng nhau) thanh toán số tiền 25.822.590đ về giá trị tài sản (công trình xây dựng gắn liền trên diện tích đất 182m²nêu trên) cho ông Lâm Thái S, bà Lê Thị Tú V.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lâm Thái S về việc tranh chấp yêu cầu hộ gia đình nguyên đơn ông Lâm Thái P trả lại QSD diện tích đất 182m² nằm trong thửa số 557, tờ bản đồ số 6, bản đồ 299, diện tích 610m² thuộc thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên có công trình của Lâm Thái S, bà Lê Thị Tú V xây dựng gắn liền trên đất.

3. Về chi phí định giá tài sản: Ông Lâm Thái S và bà Lê Thị Tú V liên đới (nghĩa vụ bằng nhau) chịu 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, được khấu trừ vào số tiền do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước. Do đó, ông Lâm Thái S và bà Lê Thị Tú V liên đới có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

4. Về án phí phúc thẩm: ông Lâm Thái S phải chịu án phí DSPT là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền ông S đã tạm ứng tại biên lai số 0000188 ngày 21/10/2024, ông S đã nộp đủ.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TANCC Đà Nẵng
  • - VKSND tỉnh Phú Yên
  • - Chi cục THADS huyện Tuy An;
  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và tranh chấp qsd đất

  • Số bản án: 08/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tháo dỡ công trình trên đất và tranh chấp QSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nđ yc bđ trả đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger