|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 08/2025/DS-PT Ngày 20 - 02 - 2025 V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nga
Ông Hoàng Hữu Tăng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên: Ông Nguyễn Thanh Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1950; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1938; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T1: Anh Nguyễn Viết T2, sinh năm 1981; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên (Văn bản uỷ quyền ngày 23/3/2022); “có mặt”
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị L (còn có tên gọi khác là Nguyễn Thị N), sinh năm 1958; Nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Địa chỉ: Số nhà A B, phường Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh H do bà Lê Xuân D, sinh năm 1998; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên đại diện (Văn bản ủy quyền ngày 21 tháng 11 năm 2024); “có mặt”
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Tiến A, Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh H; “có mặt”
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1950; “vắng mặt”
Người đại diện theo chỉ định của Tòa án: Anh Nguyễn Lê Hoàng H, sinh năm 1978; Đều địa chỉ: P, Tòa N, Khu đô thị S, quận L, Thành phố Hà Nội; “có mặt"
Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1952; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số nhà F, L, Tổ dân phố K, phưỡng D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; “vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị C (còn có tên gọi khác là S), sinh năm 1960; Địa chỉ: Số nhà G, đường L, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; Địa chỉ: Đ, tổ dân phố X, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
Bà Nguyễn Thị N2 sinh năm 1966; “có mặt”
Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1987; “vắng mặt”
Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1990; “vắng mặt”
Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1992; “vắng mặt”
Đều địa chỉ: Số nhà D, Ngõ chợ C3, phường Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.
Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số nhà A L, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1970; Địa chỉ: Đ, Tổ dân phố X, phường L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
Bà Nguyễn Thị Kim N3, sinh năm 1972; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
Cụ Vũ Đình T6 (tên gọi khác Vũ Văn T7), sinh năm 1934; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; “có mặt”
- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn D1, sinh năm 1953; Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 01 năm 2022 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người đại diện hợp pháp cho bà Nguyễn Thị T1, anh Nguyễn Viết T2 thống nhất trình bày: Bố mẹ bà T, bà T1 là cụ Nguyễn Văn A1, chết năm 1972 và cụ Nguyễn Thị B, chết năm 1983 sinh được 03 người con gồm bà T1, bà T, và liệt sỹ Nguyễn Văn Đ hy sinh năm 1967 chưa có vợ con. Vợ chồng cụ A1 được thừa hưởng của bố mẹ là kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1 mảnh đất thổ cư diện tích 305m² và hơn 800m² đất ao. Vợ chồng kỵ H4 có 04 con chung là Nguyễn Văn A1, Nguyễn Văn T8 (Nguyễn Trọng T9), Nguyễn Thị L1 lớn (tức C2) và Nguyễn Thị L1 bé (tức T10). Cụ T9 lấy cụ Đào Thị S1 sinh ra được 10 người con, có nhà đất sinh sống tại thành phố H không sống ở quê. Cụ L1 lớn, L1 bé đi lấy chồng không có nhà đất ở thôn T, xã T và đều đã chết. Kỵ Hòa và kỵ Chiều không rõ năm chết. Vợ chồng cụ A1 sinh sống trên đất của bố mẹ để lại cho đến khi qua đời, cụ T9 đã bỏ nhà đi biệt tích từ những năm 1990 không biết còn sống hay đã chết, cụ S1 mất năm 2019.
Bà T, bà T1 đi lấy chồng không ở trên đất bố mẹ để lại. Ngày 21/02/1983 âm lịch cụ B đã lập di chúc cho vợ chồng bà T toàn bộ diện tích đất thổ cư và diện tích đất ao. Do không sử dụng, bà T nhờ bà Nguyễn Thị P là cháu gọi cụ B là cô ruột ở sát nhà trông nom nhà đất, thả cá. Năm 2000 khi chị em bà T có ý định xây nhà thờ trên đất thì cụ Vũ Đình T6 giữ không cho xây, nói đất của vợ chồng cụ T9 rồi gọi các con cụ T9 về nhận giữ đất. Bà T làm đơn gửi UBND xã T giải quyết thì được biết diện tích đất thổ cư đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ T9 từ năm 1990 cấp đổi năm 2004, còn diện tích đất ao được cấp bìa đỏ cho ông Vũ Đức T11 cán bộ địa chính xã. Bà T làm đơn khiếu nại tố cáo gửi các cơ quan chức năng giải quyết. Ngày 14/5/2012 UBND huyện T có kết luận thanh tra số 03/KLTTr-UBND không chấp nhận việc đòi đất, nhưng ngày 28/9/2012 Thanh tra Nhà nước tỉnh H có kết luận số 55/KL-TTT xác định việc đòi đất của bà T là đúng, kết luận của UBND huyện T về nội dung đòi đất của bà T là không đúng. Trên cơ sở kết luận thanh tra, ngày 24/6/2013 UBND huyện T ra quyết định số 920/QĐ-UBND thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 30/9/2004 cho hộ ông Nguyễn Trọng T9 do vi phạm quy định trong việc lập hồ sơ xét cấp giấy chứng nhận. Sau khi cụ T9, cụ S1 mất thì cụ Vũ Đình T6 tiếp tục cải tạo sử dụng mảnh đất, bà T tiếp tục báo cáo chính quyền thì được biết vợ chồng ông Hoàng Văn D1 và bà Nguyễn Thị L là người nhờ cụ T6 chăm nom, cải tạo vườn trên diện tích đất này. Bà T khởi kiện đề nghị Tòa án buộc cụ T6, vợ chồng ông Hoàng Văn D1 và bà Nguyễn Thị L và các con cụ T9 trả lại cho gia đình bà diện tích đất 305m² tại bản đồ số 10 thửa 56 ở thôn T, xã T, huyện T. Sau đó nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu, không khởi kiện cụ T6, ông D1 (con rể cụ T9) vì không liên quan đến mảnh đất, chỉ khởi kiện bà L và các con cụ T9 phải trả lại diện tích đất theo số liệu đo vẽ thực tế 219,4m². Di chúc của mẹ bà T để lại, bà T chỉ yêu cầu giải quyết xác định quyền sử dụng đất chứ không yêu cầu chia thừa kế, tự chị em các bà thỏa thuận trong gia đình.
Tại đơn đề nghị, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Nguyễn Thị L (tức Năm) và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là con cụ T9 cụ S1 công nhận lời khai của nguyên đơn về mối quan hệ gia đình và trình bày: Nguồn gốc mảnh đất tranh chấp là của vợ chồng kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1 để lại cho vợ chồng cụ A1 sử dụng. Do hai bà con gái đi lấy chồng không ở trên đất, cụ T9 lập gia đình không ở cùng cụ H4 mà chuyển lên thành phố H sinh sống, chỉ còn vợ chồng con cái cụ Al ở cùng vợ chồng kỵ H4. Đến khoảng năm 1955-1956 khi cụ A1 cầm cố nhà đất do nợ nần nên kỵ H4 đã gặp cụ T9 nói chuyện bảo chuộc lại nhà đất để cho bố mẹ, vợ chồng anh chị và các cháu ở, nên cụ T9 đã tự bỏ tiền chuộc lại nhà đất. Đến ngày 19/8/1956 vợ chồng cụ A1, cụ B đã viết văn bản sang tên đất thổ, đất ao cho cụ T9 có xác nhận của Uỷ ban hành chính xã T. Do cụ T9 ở chỗ khác nên vẫn để lại diện tích này cho cụ Al ở nhờ, đến khi cụ A1 chết thì cụ B vẫn ở trên đất sau này. Khi cụ B ốm sắp mất thì sang ở cùng bà T1, nhà đất lúc này không có ai trông nom. Năm 1983 cụ B mất, năm 1990 cụ T9 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 255m² rồi viết giấy nhờ cụ T6 trông nom nhà đất giúp, năm 2004 mảnh đất được cấp đổi giấy chứng nhận mang tên vợ chồng cụ T9 cụ S1. Năm 1994 cụ T9 đi không về và gia đình đã làm thủ tục tuyên bố cụ T9 mất tích, ngày 27/11/2007 Tòa án thành phố Hưng Yên ra quyết định số 01/2007/QĐ-VDS tuyên bố cụ T9 mất tích, năm 2019 thì cụ S1 mất. Anh chị em bà L không tranh chấp và coi đất là chỗ hương hỏa để đi về nên bị đơn cùng các anh chị em không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án xác định diện tích tranh chấp là của bố mẹ bà L để lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Vũ Đình T6 (tức Vũ Văn T7) trình bày: Cụ với cụ A1, cụ T9 là anh em con cô, con cậu ruột và không có mâu thuẫn. Nguồn gốc mảnh đất đang tranh chấp là của vợ chồng kỵ H4, kỵ Chiều để lại. Hai kỵ sinh được 04 người con là cụ A1, cụ T9 và 02 cụ L1, hiện nay cả 04 người đều đã mất. Trước đây mảnh đất đã được kỵ H4 cho cụ Al sử dụng nhưng do cụ Al đánh bạc thua nên đã cầm cố với cụ Sử T12. Thời điểm đó cụ T9 ở thành phố H có điều kiện hơn nên đã tự bỏ tiền chuộc mảnh đất đó về và vẫn cho cụ A1 sử dụng, khi nhà hư hỏng thì cụ T9 cũng trực tiếp sửa sang cho cụ A1 ở. Đến ngày 19/8/1956 cụ T7 là người trực tiếp kí vào giấy của cụ T9 chuộc đất lại với cụ Sử T12. Năm 1972 cụ A1 chết, cụ B vẫn ở trên mảnh đất đó được một thời gian thì bà T1 đón cụ B về xã L sinh sống. Khi cụ B mất được khoảng 01 tháng thì bà T, bà T1 về dỡ nhà trả lại đất cho cụ T9. Thời điểm đó, cụ T9 đã nhận lại đất sử dụng được khoảng 03 năm, đến năm 1990 thì cụ T9 có viết thư tay gửi cụ T7 trong nom giúp từ đó đến nay. Trong thời gian này cụ T7 có trồng 01 cây nhãn và đóng thuế đất cho ông Vũ Quốc D2 là phó thôn T, ông Hoàng Ngọc B1 là trưởng thôn T. Cụ T7 đóng thuế đất được khoảng 10 năm đến khi bà T có đơn kiện thì không đóng nữa. Hiện tại cụ T7 không trông nom hộ nữa, cụ T7 khẳng định đây là mảnh đất của vợ chồng cụ A1 được bố mẹ cho sử dụng nhưng đã cầm cố mảnh đất trên cho cụ Sử T12, sau đó cụ T9 chuộc lại và nhờ cụ T7 trông nom hộ. Khi bà T làm đơn khởi kiện, cụ T7 đã gọi các con cụ T9 về bàn giao lại đất nên không còn liên quan gì.
Người làm chứng ông Hoàng Văn D1 trình bày: Ông là chồng bà L, con rể cụ T9 cụ S1. Bà T khởi kiện yêu cầu ông trả lại đất là không đúng vì mảnh đất đang tranh chấp không liên quan gì đến ông.
UBND xã T cung cấp: Mảnh đất đang tranh chấp có nguồn gốc của vợ chồng kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1 để lại cho các con từ trước năm 1956. Vợ chồng kỵ H4 có 04 con chung, đều đã chết là: Nguyễn Văn Al có vợ là Nguyễn Thị B sinh được 03 người con; Cụ Nguyễn Trọng T9 có vợ là cụ Đào Thị S1 sinh được 10 người con; Cụ Nguyễn Thị L1 (lớn); Cụ Nguyễn Thị L1 (bé). Sau khi vợ chồng cụ H4 mất thì mảnh đất do vợ chồng con trai lớn là Nguyễn Văn A1 sử dụng. Theo hồ sơ bản đồ 299 đo vẽ năm 1985-1987, mảnh đất thể hiện tại tờ bản đồ số 04 thửa số 56 diện tích 305m² nhưng đứng tên trong sổ sách 02 người. Sổ thứ nhất ghi tên Nguyễn Trọng T9, sổ thứ hai ghi tên Nguyễn Thị B2 (tức B). Lý do 02 quyển số ghi tên 02 người là do cán bộ địa chính ông Vũ Đức T11 tự ý xé bỏ một số trang sổ mục kê sau đó ghi lại tên người sử dụng đất lại. Theo trung tâm lưu trữ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cung cấp: sổ mục kê 299 xã T do trung tâm lưu trữ phô tô từ sổ chính UBND xã T năm 2007 thì mảnh đất tại tờ bản đồ số 4, thửa số 56 diện tích 305m² đứng tên Nguyễn Thị B2 không đứng tên Nguyễn Trọng T9. Theo hồ sơ, sổ sách đo vẽ năm 1990 mảnh đất tranh chấp thể hiện tại tờ bản đồ số 21, thửa số 08 diện tích đất là 255m² loại đất thổ đứng tên Nguyễn Trọng T9. Ngày 13/12/1990 Chủ tịch UBND tỉnh H đã cấp bìa đỏ mang tên Nguyễn Trọng T9. Theo hồ sơ sổ sách đo vẽ năm 2002 mảnh đất thể hiện tại tờ bản đồ số 18 thửa bản đồ số 69 diện tích 232m² đứng tên Nguyễn Trọng T9, ngày 30/9/2004 hộ ông Nguyễn Trọng T9 đã được cấp đổi GCNQSDĐ. Theo hồ sơ VLAP đo vẽ, số hóa năm 2015 mảnh đất tranh chấp thể hiện tại tờ bản đồ số 18, thửa số 69, diện tích 231,8m² đứng tên ông Nguyễn Trọng T9 và bà Đào Thị S1. Sự việc tranh chấp giữa bà T và cụ S1, sau này cụ S1 chết thì bà T tiếp tục tranh chấp với các con của cụ S1 đã diễn ra từ năm 2000. UBND các cấp đã giải quyết nhiều lần, ngày 14/5/2012 UBND huyện T đã có kết luận thanh tra số 03/KLTTr-UNBD không chấp nhận đơn tranh chấp của bà T. Nhưng đến ngày 28/9/2012 Thanh tra tỉnh Hưng Yên đã có kết luận số 55/KL-TTr xác định kết luận thanh tra số 03 ngày 14/5/2022 của UBND huyện T giải quyết tranh chấp đất đai theo đơn tố cáo của bà T là không đúng. UBND xã T đề nghị Tòa án căn cứ kết luận thanh tra số 55 ngày 28/9/2012 để giải quyết vụ việc. Trên cơ sở kết luận thanh tra, UBND huyện T đã có Quyết định thu hồi GCNQSDĐ đã cấp cho hộ ông Nguyễn Trọng T9 năm 2004 bằng QĐ số 920/QĐ-UBND ngày 24/6/2013.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2024 thể hiện hiện trạng phần đất đang tranh chấp có diện tích 219,4m², trên đất có 04 cây nhãn, 01 cây xoài, 01 cây ổi do cụ T7 trồng; tường bao phía Bắc, phía Đ1 và một phần tường phía Nam xây bằng gạch ba vanh do cụ S1 vợ cụ T9 xây còn lại một phần tường giáp ngõ đi là cụ T7 xây bằng gạch đỏ.
Kết quả định giá tài sản ngày 17/7/2024 thể hiện phần đất tranh chấp giá trị 2.062.500đ/m² x 219,4m² = 452.512.500 đồng. Tường bao gạch ba vanh 110, bổ trụ 220cm, dài 28,48m, cao 1,2m, diện tích 34,18m² giá trị 3.475.000 đồng. Toàn bộ cây cối trên đất như nhãn, xoài, ổi đương sự không yêu cầu định giá.
Bản án sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ Điều 166, 170, 202, 203 Luật Đất đai năm 2013. Điều 160, 163, 164 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 1 Điều 92, khoản 1 Điều 146, khoản 1 Điều 147, Điều 157, 158, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1.
Xác định diện tích đất 219,4m² tại tờ bản đồ số 18 thửa số 69 bản đồ VLAP năm 2015 thuộc thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên là di sản thừa kế của vợ chồng cụ Nguyễn Văn A1 cụ Nguyễn Thị B.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L và các anh chị em phải trả lại bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 diện tích đất nêu trên quản lý sử dụng.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, về chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 bị đơn bà Nguyễn Thị L (Năm) kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm sơ thẩm số 06/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
Tại phiên tòa: Các đương sự không thỏa thuận về việc giải quyết vụ án.
Người kháng cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo xác định khởi kiện bà L là không đúng vì bà L không quản lý, sử dụng đất và đề nghị Tòa án hủy bản án sơ thẩm do cấp sơ thẩm căn cứ vào quyết định thanh tra số 55 để giải quyết vụ án là không có căn cứ vì kết luận thanh tra chỉ kết luận nội dung thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng không có nội dung kết luận đất của bố mẹ bà T, bà T1. Thực tế giấy sang tên đất của cụ A1, cụ B có xác nhận của chính quyền phù hợp với lời khai của cụ T7 có căn cứ xác định đất thuộc quyền sử dụng của cụ T9. Cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà L là không đúng quy định vì bà L chỉ đề nghị xét xử vắng mặt khi được hỏi qua điện thoại không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt trong khi bà L vắng mặt là do lũ lụt nên đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xác định đất là của bố mẹ, sau khi cụ A1 chết, cụ Bàng tiếp T13 sử dụng đến khi được con đón về chăm sóc. Khi đón cụ B bà đã nhờ bà P trông nom đất nhưng sau đó cụ T7 không cho bà P quản lý với lý do đất của cụ T9. Bà đã khiếu nại nhiều năm, đã được Ủy ban nhân dân các cấp trả lại diện tích Ao và hướng dẫn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp đất thổ cư. Theo tài liệu địa chính thì đất do cụ B kê khai, đăng ký quyền sử dụng trên bản đồ nên không chấp nhận quan điểm của bị đơn và luật sư, đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Cụ T7 xác định được gia đình cụ T9 nhờ trông nom hộ đất, khi xảy ra tranh chấp đã trả lại đất cho gia đình cụ T9 nên sẽ có trách nhiệm giao trả cho người được quyền sử dụng đất và không có yêu cầu về công sức, cây trồng trên đất.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về đường lối giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm có vi phạm trong việc tống đạt văn bản tố tụng nhưng không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng vì bà L đã có quan điểm đồng ý Tòa án xét xử vắng mặt khi được liên lạc qua điện thoại và đã kháng cáo bản án theo quy định.
Về nội dung: Tại cấp sơ thẩm các đương sự đều công nhận nguồn gốc đất là của kỵ H4, kỵ Chiều đã cho cụ A1, cụ B nên là tình tiết không phải chứng minh. Giấy sang tên đất năm 1956 không có chữ ký của cụ A1, cụ B, lời khai của cụ T7 mâu thuẫn với nhau nên không khách quan. Thực tế bị đơn không quản lý, sử dụng đất mà đất đều kê khai, đăng ký tên cụ B và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ T9 không đúng pháp luật nên đã bị thu hồi đồng thời bà T là người khiếu nại và được giải quyết trả lại diện tích ao nhưng không có tranh chấp đã có căn cứ xác định quyền sử dụng đất là của cụ Al và cụ B do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ông Nguyễn Trọng N1 khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi nên Tòa án chỉ định con là anh Nguyễn Lê Hoàng H là người đại diện là phù hợp Điều 88 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thị H3 đều có quan điểm ủy quyền cho bà Nguyễn Thị N2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đều đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Các đương sự đều công nhận kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1 có bốn con là cụ Nguyễn Văn A1, cụ Nguyễn Trọng T9, cụ Nguyễn Thị L1 (lớn) và cụ Nguyễn Thị L1 (bé). Thửa đất số 69, tờ bản đồ số 18 đo năm 2015; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên (sau đây ghi là thửa đất số 69) là tài sản của kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1. Cụ Nguyễn Văn A1 chết năm 1972, cụ Nguyễn Thị B chết năm 1983 có ba con là bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị T và liệt sỹ Nguyễn Văn Đ hy sinh năm 1967. Cụ Nguyễn Văn T8 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên tuyên bố mất tích năm 2007 và cụ Đào Thị S1 chết năm 2019 có 10 con chung là ông Nguyễn Trọng N1, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị Kim N3 và ông Nguyễn Văn X đã chết năm 2019 có vợ Nguyễn Thị N2 và ba con Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thị H5 nên theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự là tình tiết không phải chứng minh.
[3] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 khởi kiện đòi các con của cụ Nguyễn Trọng T9 trả thửa đất số 69 nên quan hệ pháp luật là “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.
[4] Bà Nguyễn Thị L xác định không quản lý, sử dụng đất nên bà L không phải là bị đơn, bà vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng nhưng Tòa án xét xử vắng mặt là trái quy định pháp luật tuy nhiên theo khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự cấp sơ thẩm xác định bà L là bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Bà L vắng mặt nhưng khi được liên lạc đã có quan điểm đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt bà không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[5] Sự thừa nhận của bị đơn cùng người liên quan đứng về phía bị đơn phù hợp với tài liệu hồ sơ địa chính thửa đất do cụ B kê khai đăng ký, trình bày của cụ T7 có căn cứ xác định thửa đất số 69 đã được kỵ Nguyễn Văn H4 và kỵ Vũ Thị C1 tặng cho vợ chồng cụ Nguyễn Văn A1, và cụ Nguyễn Thị B.
[6] Bị đơn và người liên quan đứng về phía bị đơn đều xác định cụ A1 đã cầm cố thửa đất và cụ T9 là người chuộc lại thửa đất sau đó cho bố, mẹ cùng vợ chồng cụ A1 ở nhờ tuy nhiên theo văn bản Giấy xin sang bán ghi ngày 19-8-1956 thể hiện phía dưới dòng chữ “Nguyễn Văn A1 Ký, Nguyễn Thị B” đều là chữ “Ký” nên chưa đủ căn cứ xác định là văn bản thể hiện ý chí của cụ Al và cụ B. Theo cụ T7 thì cụ B quản lý sử dụng đất phù hợp với Biên bản Hội nghị quân dân chính đảng thôn T ngày 24/01/2008 và thực tế theo giấy xin sang bán, có cả đất thổ cư, đất ao nhưng các con cụ T9 cụ S1 chưa bao giờ quản lý, sử dụng đất ao. Phần đất ao đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khác nhưng chính bà Nguyễn Thị T đã được UBND tỉnh H giải quyết trả lại nhưng gia đình cụ T9 không phản đối. Gia đình cụ T9, cụ S1 sinh sống tại thị xã H (nay là thành phố H) từ những năm 1960 đến nay, chưa bao giờ sử dụng đất tranh chấp trong khi cụ A1, cụ B là người sử dụng đất liên tục không có tranh chấp nên các con cụ T9 cụ S1 căn cứ Giấy xin sang bán ghi ngày 19-8-1956 có xác nhận của Uỷ ban hành chính xã T để xác định quyền sử dụng đất thửa đất số 69 của cụ T9, cụ S1 là không phù hợp quy định của pháp luật đất đai.
[7] Theo hồ sơ địa chính cùng tài liệu lưu giữ của Trung tâm quản lý, khai thác hồ sơ địa chính của Sở T thể hiện thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1990 của Thủ tướng chính phủ về việc thống kê đăng kí đất đai (xã T thực hiện khoảng năm 1985-1987) hộ cụ B đăng kí duy nhất một thửa đất ở, số thứ tự 694, số thửa 56, tờ bản đồ số 10 xứ Đ, diện tích 305m² loại ruộng đất thổ cư; không có tên ông Nguyễn Trọng T9 trong sổ đăng kí đất ruộng tại xã. Quá trình sử dụng có các biến động về số thửa và diện tích như sau: Năm 1956 không rõ diện tích; năm 1987 là thửa đất số 56, tờ bản đồ số 10, diện tích 305m²; năm 1990 là thửa số 21, tờ bản đồ số 08, diện tích 255m²; năm 2002 là thửa số 69, tờ bản đồ số 18, diện tích 232m². Việc kê khai đăng ký thửa đất số 69 phù hợp với Biên bản Hội nghị quân dân chính đảng thôn T ngày 24/01/2008 và sự thừa nhận của các đương sự cụ Al và cụ B là người quản lý, sử dụng thửa đất số 69 đã có căn cứ xác định từ thời điểm cụ A1 và cụ B quản lý sử dụng đất, hai cụ đã xây dựng công trình trên đất không có tranh chấp nên cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 69 là di sản của cụ Al và cụ B là phù hơp quy định pháp luật về đất đai.
[7] Xét hàng thừa kế thứ nhất của cụ T9 và cụ S1 đều xác định đất của bố mẹ không thừa nhận quyền sử dụng đất của bà T, bà T1 nên yêu cầu khởi kiện đòi bà L và các con của cụ T9 phải trả hàng thừa kế thứ nhất của cụ A1 và cụ B là bà Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị T1 quyền sử dụng đất thửa đất số 69 đo thực tế là diện tích 219,4m² tại tờ bản đồ số 18 thửa số 69 bản đồ VLAP năm 2015 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên là đúng pháp luật. Tuy nhiên cấp sơ thẩm khi tuyên án không xác định vị trí kích thước thửa đất theo thực tế và buộc bà Nguyễn Thị L và các anh chị em phải trả diện tích đất nêu trên là không rõ ràng nên cấp phúc thẩm sẽ xác định lại cho phù hợp.
[7] Quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ giải quyết đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tại cấp phúc thẩm, người kháng cáo không xuất trình được tài liệu chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của phía bị đơn.
[8] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.
[9] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[10] Án phí: Bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi có đơn đề nghị nên được miễn án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của của bà Nguyễn Thị L (còn có tên gọi khác Nguyễn Thị N). Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/DS-ST, ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Xử:
Xác định thửa đất số 69, tờ bản đồ số 18 đo thực tế diện tích 219.4m²; địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên vị trí phía Bắc giáp Đường bê tông kích thước (2.61+13.24+0.54+0.10)m, phía Đông giáp đường và đất cụ Vũ Đình T6 kích thước (0.30+0.55+0.52+10.35+0.12+0.32+0.13+1.49)m, phía Nam giáp đất cụ Vũ Đình T6 kích thước (1.24+2.85+3.81+5.83)m, phía Tây giáp Ao ông Vũ Đức T11 bà Hoàng Thị B3 kích thước 14.91m.
Buộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn T8 và cụ Đào Thị S1 là ông Nguyễn Trọng N1, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị T4, bà Nguyễn Thị T5, bà Nguyễn Thị Kim N3 và người thừa kế chuyển tiếp của ông Nguyễn Văn X là bà Nguyễn Thị N2, anh Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn H2, chị Nguyễn Thị H5 trả hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn A1 và cụ Nguyễn Thị B là bà Nguyễn Thị T1 và bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất thửa đất số69, tờ bản đồ số 18 đo thực tế diện tích 219.4m²; địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên vị trí phía Bắc giáp Đường bê tông kích thước (2.61+13.24+0.54+0.10)m, phía Đông giáp đường và đất cụ Vũ Đình T6 kích thước (0.30+0.55+0.52+10.35+0.12+0.32+0.13+1.49)m, phía Nam giáp đất cụ Vũ Đình T6 kích thước (1.24+2.85+3.81+5.83)m, phía Tây giáp Ao ông Vũ Đức T11 bà Hoàng Thị B3 kích thước 14.91m. (Hình ABCDA trong sơ đồ kèm theo bản án và là phần không tách rời của bản án)
Án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm đối với bà Nguyễn Thị L.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Quang Tú |
Bản án số 08/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 08/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
