Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2025/DS-PT

Ngày 13-02-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà và ông Đặng Chí Công.

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2024/DSST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 183/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc L; địa chỉ: Số F đường B, khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do ông Phạm Quang T; địa chỉ: C V, phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, làm đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kim D; địa chỉ: Hẻm D T, tổ I, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Do bà Phạm Thị Ngọc Y; địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, làm đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn H; địa chỉ: Số F đường B, khu phố B, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L và bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn trình bày: Do quen biết nên nguyên đơn đã cho bị đơn vay tiền 03 lần để kinh doanh, không tính lãi, thời hạn trả khi nào nguyên đơn cần thì trả (hai bên

chỉ thỏa thuận bằng lời nói); hình thức cho vay bằng chuyển khoản từ chủ tài khoản Huỳnh Ngọc L chuyển đến chủ tài khoản Huỳnh Thị Kim D, cụ thể như sau:

  • Lần thứ nhất: Vay 100.000.000 đồng, chuyển khoản vào ngày 11-3-2019, nội dung chuyển khoản : « Huỳnh Ngọc L cho mượn ».
  • Lần thứ hai: Vay 500.000.000 đồng, chuyển khoản vào ngày 7-10-2019, nội dung chuyển khoản: «CHUYEN GIUM CHO ONG PHAM XUAN HOAI CHO BA HUYNH THI KIM DUNG MUON”.
  • Lần thứ ba: Vay 100.000.000 đồng, chuyển khoản vào ngày 24-8-2020, nội dung chuyển khoản: « CK »

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả :

  • Tổng số nợ gốc của 03 lần vay là 700.000.000 đồng.
  • Nợ lãi: Tại đơn khởi kiện yêu cầu tính lãi 1,7%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 24-8-2020 đến ngày trả nợ xong, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi yêu cầu về tính lãi 10%/năm, thời gian tính lãi từ ngày 24-8-2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là 144.720.000 đồng và phải trả nợ lãi phát sinh đến khi trả xong nợ gốc.

Nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn vay 500.000.000 đồng vào ngày 07-10-2019 từ chủ tài khoản Huỳnh Ngọc L đến chủ tài khoản Huỳnh Thị Kim D có nội dung chuyển tiền “CHUYEN GIUM CHO ONG PHAM XUAN HOAI CHO BA HUYNH THỊ KIM DUNG MUON”, sự thật đây là tiền của nguyên đơn cho bị đơn mượn, nguyên đơn ghi nội dung chuyển tiền như trên mục đích để thuận tiện cho việc đòi tiền, còn “ONG PHAM XUAN HOAI” là tên của một người có thật là bạn của nguyên đơn tên là Phạm Văn H nhưng nguyên đơn viết sai họ.

Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn, vì khoản vay 700.000.000 đồng nguyên đơn khởi kiện bị đơn là khoản vay riêng; còn thửa đất số số 357, tờ bản đồ số 26, diện tích 117m2, địa chỉ thửa đất Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai mà bị đơn ủy quyền cho nguyên đơn chuyển nhượng là đất của nguyên đơn, vì nguyên đơn có đưa tiền cho bị đơn mua thửa đất với giá 50.000.000 đồng và nhờ bị đơn đứng tên dùm nên yêu cầu phản tố của bị đơn cấn trừ nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn không đồng ý. Mặt khác, nguyên đơn chuyển nhượng thửa đất cho bà Bùi Thị H1 với giá 50.000.000 đồng, bị đơn khai hai bên thỏa thuận giá trị thửa đất là 700.000.000 đồng để cấn trừ nợ là không đúng vì giữa nguyên đơn và bị đơn không có văn bản nào để chứng minh có sự thỏa thuận giá đất 700.000.000 đồng và việc bị đơn ủy quyền cho nguyên đơn chuyển nhượng đất để trừ nợ.

Bị đơn trình bày: Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn công nhận vay của nguyên đơn số tiền 600.000.000 đồng của 02 lần, nguyên đơn chuyển khoản lần thứ nhất 100.000.000 đồng, lần thứ hai 500.000.000 đồng, nhưng bị đơn đã trả nợ xong cho nguyên đơn bằng cách cấn trừ nợ bằng việc ủy quyền chuyển nhượng đất cho nguyên đơn thửa đất số 357, tờ bản đồ số 26, diện tích 117m2, địa chỉ thửa đất Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 823571 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02-4-2019 với giá trị 700.000.000 đồng, nên lần thứ ba nguyên đơn chuyển tiền cho bị đơn 100.000.000 đồng không phải tiền bị đơn vay mà là 02 bên thống nhất lô đất trị giá 700.000.000 đồng, bị đơn còn nợ của nguyên 600.000.000 đồng nên nguyên đơn chuyển trả cho bị đơn 100.000.000 đồng.

Vì vậy, bị đơn có yêu cầu phản tố là: Yêu cầu bù trừ nghĩa vụ trả nợ từ việc bị đơn ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 15-6-2020 được công chứng tại Văn phòng C tỉnh Gia Lai) cho nguyên đơn chuyển nhượng thửa đất nêu trên với giá trị 700.000.000 đồng. Như vậy, bị đơn đã thanh toán xong tất cả các khoản nợ cho nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H trình bày: Ông H không biết việc vay nợ giữa ông L và bà D, mà chỉ nghe ông L nói có ghi tên ông H để thuận tiện cho việc đòi tiền, số tiền 500.000.000 đồng là tiền của ông L, không phải tiền của ông H và ông H không có yêu cầu gì.

Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2024/DSST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Áp dụng các Điều: 274, 275, 278, 357, 280, 398, 463, 465, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều: 91, 92, 93, 94, 95, 157, 165, 227, 244, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Huỳnh Ngọc L. Buộc bà Huỳnh Thị Kim D phải trả lại cho ông Huỳnh Ngọc L số tiền 100.000.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D. Xác định giá trị thửa đất số 357, tờ bản đồ số 26, diện tích 117m2, địa chỉ thửa đất Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 823571 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02-4-2019 bà Huỳnh Thị Kim D ủy quyền cho ông Huỳnh Ngọc L chuyển nhượng có giá trị là 600.000.000 đồng, được cấn trừ số tiền 600.000.000 đồng bà Huỳnh Thị Kim D nợ ông Huỳnh Ngọc L. Vậy bà Huỳnh Thị Kim D đã trả xong khoản nợ 600.000.000 đồng cho ông Huỳnh Ngọc L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, tiền lãi của số tiền phải thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về kháng cáo:

Ngày 27-9-2024, nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 30-9-2024, bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền 700.000.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giao nộp tài liệu là bảng sao kê tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh H3 và có ý kiến đề nghị cấp phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ là bảng sao kê tại Ngân hàng và yêu cầu xem xét việc cấp sơ thẩm xác định người làm chứng bà Bùi Thị H2, Bùi Thị T1 tại phiên tòa, không đồng ý kết quả định giá ngày 16/7/2024 vì chưa đảm bảo theo quy định pháp luật; yêu cầu tính lãi đối với số tiền 700.000.000đ. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố, giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố và kháng cáo của bị đơn. Các đương sự không không cung cấp tài liệu chứng cứ mới, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của người kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1. Về quan hệ vay tiền đã được nguyên đơn và bị đơn thống nhất về việc ông L đã 03 (ba) lần chuyển khoản tiền vào tài khoản cho bà D, cụ thể: Lần thứ nhất, chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 11-3-2019, với nội dung chuyển khoản “Huỳnh Ngọc L cho mượn”. Lần thứ hai, chuyển khoản số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 7-10-2019, với nội dung chuyển khoản “CHUYEN GIUM CHO ONG PHAM XUAN HOAI CHO BA HUYNH THI KIM DUNG MUON”. Lần thứ ba, chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng, vào ngày 24-8-2020, với nội dung chuyển khoản “CK”. Trong đó, số tiền 100.000.000 đồng chuyển vào ngày 11-3-2019 và số tiền 500.000.000 đồng chuyển vào ngày 07-10-2019 là tiền ông L cho bà D mượn.

2.2. Ông L và bà D cũng thừa nhận rằng họ có ký Hợp đồng ủy quyền được Văn phòng C1 tỉnh Gia Lai công chứng ngày 15-6-2020, số công chúng 463, quyển số 01 TP/CC-SCC/HĐGD; theo đó, bà D ủy quyền cho ông L được thực hiện các quyền về dân sự về sử dụng, định đoạt quyền sử dụng thửa đất số 375, tờ bản đồ số 26, diện tích 117m2, tại làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 823571 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02-4-2019 bà Huỳnh Thị Kim D. Nhưng bà D chứng minh được việc bà ủy quyền cho ông L như đã nêu trên là nhằm mục đích cấn trừ khoản tiền đã vay là 600.000.000 đồng và số 100.000.000 đồng được chuyển khoản ngày 24-8-2020 là tiền còn dư sau khi cấn trừ (hai bên thỏa thuận trị giá quyền sử dụng là 700.000.000 đồng), cụ thể là sau khi ký hợp đồng ủy quyền, đến ngày 07-4-2021 ông L đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất đó cho bà Bùi Thị H1, với trị giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng, việc giao nhận tiền được thực hiện giữa ông L với bà H1, mà không có chứng cứ chứng minh việc ông L đã chuyển số tiền này cho bà D. Do đó, đã đủ căn cứ khẳng định bà D ký Hợp đồng ủy quyền ngày 15-6-2020 cho ông L được chuyển nhượng thửa đất thửa đất 375, tờ bản đồ số 26 để cấn trừ khoản nợ 600.000.000 đồng.

2.3. Đối với số tiền 100.000.000 đồng được chuyển khoản ngày 24-8-2020, qua kết quả định giá tài sản đối với thửa đất đã ủy quyền cho ông L chuyển nhượng và trị giá quyền sử dụng đất thực tế mà ông L đã chuyển nhượng cho bà H1 đều có giá trị 600.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu phản phản tố của bà D về số tiền 100.000.000 đồng là số tiền còn dư sau khi cấn trừ nghĩa vụ là không có căn cứ và không được Tòa án chấp nhận.

2.4. Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là ông L trình bày là ông có nhờ bà D nhận chuyển nhượng giúp quyền sử dụng thửa đất 375, tờ bản đồ số 26 nhưng ông L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ chấp nhận. Người làm chứng bà Bùi Thị T1 có lời khai trong hồ sơ vụ án thể hiện việc bà T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà D và bà D là người trả tiền cho bà T1.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị cấp phúc thẩm tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ là bảng sao kê tại Ngân hàng và yêu cầu xem xét việc cấp sơ thẩm xác định người làm chứng tại phiên tòa và yêu cầu tính lãi đối với số tiền 700.000.000đ là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Từ những căn cứ, nhận định tại luận điểm [2] như trên, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L và bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D.

[3] Về nghĩa vụ chịu án phí: Do khoáng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Huỳnh Ngọc L và bà Huỳnh Thị Kim D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nhưng không tuyên nghĩa vụ chịu tiền lãi chậm trả là chưa đảm bảo nên Tòa án cấp phúc thẩm cần tuyên về nghĩa vụ chịu lãi chậm thanh toán nêu trên cho đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D.
  3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2024/DSST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Áp dụng các Điều: 274, 275, 278, 357, 280, 398, 463, 465, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều: 91, 92, 93, 94, 95, 148, 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Huỳnh Ngọc L. Buộc bà Huỳnh Thị Kim D phải trả lại cho ông Huỳnh Ngọc L số tiền 100.000.000 đồng.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D. Xác định giá trị thửa đất số 357, tờ bản đồ số 26, diện tích 117m², địa chỉ thửa đất Làng I, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 823571 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh G cấp ngày 02-4-2019 bà Huỳnh Thị Kim D ủy quyền cho ông Huỳnh Ngọc L chuyển nhượng có giá trị là 600.000.000 đồng, được cấn trừ số tiền 600.000.000 đồng bà Huỳnh Thị Kim D nợ ông Huỳnh Ngọc L. Vậy bà Huỳnh Thị Kim D đã trả xong khoản nợ 600.000.000 đồng cho ông Huỳnh Ngọc L.
  3. Chi phí tố tụng:

    Buộc bà Huỳnh Thị Kim D phải chịu và đã nộp đủ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là: 1.300.000 đồng.

    Buộc ông Huỳnh Ngọc L phải hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Kim D số tiền đã chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là: 5.000.000 đồng.

  4. Án phí dân sự:

    - Án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Huỳnh Ngọc L phải chịu 33.788.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 22.390.500 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số 0001587 ngày 06-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku. Ông Huỳnh Ngọc L còn phải nộp thêm số tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 11.398.300 đồng.

    Buộc bà Huỳnh Thị Kim D phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền 16.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai số 0001798 ngày 07-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku. Trả lại cho bà Huỳnh Thị Kim D số tiền chênh lệch án phí dân sự sơ thẩm là: 11.000.000 đồng.

    - Án phí dân sự phúc thẩm:

    Buộc ông Huỳnh Ngọc L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai số 000515 ngày 07-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku.

    Buộc bà Huỳnh Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo Biên lai số 000487 ngày 03-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku.

    Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Văn Thưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 08/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Huỳnh Thị Kim D. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2024/DSST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger