Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 04 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Dũng
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Lê Văn Nhưng
    • Bà Trần Thị Toàn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch – Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Không

Ngày 15 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: - Chị Hoàng Thị T; sinh ngày: 13 tháng 05 năm 1994
  • Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh
  • Vắng mặt tại phiên Tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • Bị đơn: - Anh Nguyễn Đức N; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1986
  • Địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
  • Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05 tháng 10 năm 2023, trong bản tự khai, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, và đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày: Chị T và anh N kết hôn tự nguyện có đăng ký tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ngày 21/09/2012. Vợ chồng sống chung khoảng năm năm thì bắt đầu có mâu thuẫn vì khác nhau trong qua điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, lý do khác để dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng là do anh N có mối quan hệ ngoài vợ chồng, thường xuyên đe dọa, đánh đập chị T, chơi bời, bài bạc, không lo tu chí làm ăn mặc dù chị T đã nhiều lần bỏ qua khuyên nhủ anh N để thay đổi cùng cố gắng khắc phục những khuyết điểm của mình để cùng nhau xây đắp hạnh phúc gia đình. Nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nặng nề không thể khắc phục được, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không thể đạt được, năm 2022 không thể khuyên nhủ được anh N cho nên chị T đã ly thân về nhà mẹ đẻ ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống để anh N suy nghĩ lại nhưng không thành. Từ cho đến nay vợ chồng đường ai nấy đi, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Hiện nay chị T không còn tình cảm với anh N, đề nghị ly hôn anh N.

Chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đức N có 02 con chung là cháu: Nguyễn Trọng Đ – Sinh ngày 28 tháng 07 năm 2012 và Nguyễn Hoàng Tuệ N1; sinh ngày 28 tháng 03 năm 2019.

Hiện nay hai cháu đang học tập và ở với chị Hoàng Thị T tại nhà mẹ đẻ chị T, địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Từ lúc vợ chồng ly thân cho đến nay hai con chung Nguyễn Trọng ĐNguyễn Hoàng Tuệ N1 do một mình chị T nuôi dưỡng, anh N không hề quan tâm hay hỏi han, chu cấp tiền nuôi dưỡng các con, hơn nữa cháu Đ có nguyện vọng được ở với chị T, còn cháu Tuệ N1 đang học mẫu giáo tại Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh, cho nên chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung, chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung.

Chị Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung. Vợ chồng chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đức N không có các khoản nợ chung nào.

Để chứng minh cho lời trình bày của mình, chị Hoàng Thị T đã giao nộp các tài liệu chứng cứ: Giấy trích lục kết hôn; bản sao giấy căn cước công dân chị T, anh N; bản sao sổ hộ khẩu; bản sao giấy khai sinh con chung Nguyễn Trọng Đại và Nguyễn Hoàng Tuệ N1; Xác nhận về thông tin cư trú; đơn nguyện vọng của cháu Trọng Đ; đơn đề nghị không tiến hành hòa giải; bản tự khai; đơn xin xét xử vắng mặt.

Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành thông báo làm việc, giao thông báo thụ lý vụ án đối với anh N, anh N có mặt tại Tòa, trình bày nguyện vọng của mình về việc tình cảm chưa mong muốn ly hôn và nguyện vọng về con chung đồng ý giao hai con cho chị T nuôi dưỡng nhưng anh N không viết bản tự khai, không đồng ý Tòa án lấy lời khai vì cho rằng không đồng ý ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án, tất những văn bản tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, anh N nhận văn bản của Tòa án. Sau khi xét thấy, việc giao nhận, công khai bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo liên tiếp để thông tin cho anh Nguyễn Đức N nội dung vụ án thời gian gian cụ thể có mặt tại Tòa án để làm việc. Tuy nhiên, anh N không có mặt theo yêu cầu của Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến, nguyện vọng của anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đức N có hộ khẩu và cư trú tại: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay đang sinh sống tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, anh N có mặt tại Tòa, trình bày hiện tại đang sinh sống tại Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do đó xác định: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh là nơi cư trú và sinh sống hiện tại của anh Nguyễn Đức N, do đó chị Hoàng Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh giải quyết tranh chấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Nguyễn Đức N đã được Tòa án được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, để thông tin cho anh Nguyễn Đức N nội dung vụ án thời gian gia cụ thể có mặt tại Tòa án để làm việc, tham gia buổi tiếp cận công khai chứng cứ, có mặt tại phiên tòa để trình bày quan điểm của mình. Tuy nhiên, anh Nguyễn Đức N không có mặt tại phiên tòa; nguyên đơn chị Hoàng Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, trình bày rõ nội dung yêu cầu. HĐXX Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị T và anh Bùi Đức N2.

[2]. Về tình cảm: Theo trình bày của chị Hoàng Thị T, nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng chị là vì vì khác nhau trong qua điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau, lý do khác để dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng là do anh N2 có mối quan hệ ngoài vợ chồng, thường xuyên đe dọa, đánh đập chị T, chơi bời, bài bạc, không lo tu chí làm ăn, mặc dù chị T đã nhiều lần bỏ qua khuyên nhủ anh N2 để thay đổi, cùng cố gắng khắc phục những khuyết điểm của mình để cùng nhau xây đắp hạnh phúc gia đình nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nặng nề không thể khắc phục được. Hiện nay chị T không còn tình cảm với anh N2, nên đề nghị ly hôn anh N2. Hơn nữa Tòa án đã nhiều lần tống đạt, niêm yết các văn bản đề nghị anh N2 có mặt để trình bày nguyện vọng của mình, nhưng anh N2 không đến. Vì vậy, HĐXX nhận thấy, yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị T là có căn cứ, hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đủ căn cứ để xử cho chị Hoàng Thị T ly hôn với anh Nguyễn Đức N theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[3]. Về con: Nguyễn Trọng ĐNguyễn Hoàng Tuệ N1 là hai con chung của chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đức N. Tính đến nay cháu Nguyễn Trọng Đ đã 12 tuổi và Bùi Minh T1 5 tuổi. Thực tế cho thấy, từ khi T và anh N ly thân đến nay là hai năm, hai con chung ở với chị T và chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, anh N không hề quan tâm hỏi han hay chăm sóc, cấp dưỡng các con cùng chị T. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao hai cháu Nguyễn Trọng ĐNguyễn Hoàng Tuệ N1 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Hoàng Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Đức N cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung cùng chị T, HĐXX miễn xét.

[4]. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, Anh Nguyễn Đức N không có văn bản hay ý kiến về tài sản chung vợ chồng, miễn xét.

[5]. Về án phí:

Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn yêu cầu ly hôn, cho nên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Đ1 a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

[6]. Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự, chị Hoàng Thị T, anh Nguyễn Đức N vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, khỏan 2 Điều 227, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo,
  • - Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị T: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đức N.
  • - Giao hai cháu Nguyễn Trọng Đ – Sinh ngày 28 tháng 07 năm 2012 và Nguyễn Hoàng Tuệ N1; sinh ngày 28 tháng 03 năm 2019 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ ngày Bản án của Toà án có hiệu lực cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định thay đổi người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con của Toà án.
  • Anh Nguyễn Đức N có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
  • - Về án phí:
  • Chị Hoàng Thị T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005463 ngày 12 tháng 10 năm 2023. Tiền án phí chị Hoàng Thị T đã nộp đủ.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T, anh Nguyễn Đức N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  • Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Nguyên đơn: Chị T;
  • - Bị đơn: Anh N;
  • - VKS ND huyện Kỳ Anh (2 bản);
  • - VKS ND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Anh;
  • - Phòng nghiệp vụ TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T ly hôn với anh D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger