Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/DS-ST

Ngày: 22-8-2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án KDTM thụ lý số: 31/2024/TLST-KDTM ngày 14/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-DS ngày 09/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐST-DS ngày 05/8/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V. Trụ sở: Số H L, Quận Đ, thành phố Hà Nội. Đại diện theo uỷ quyền có ông Hoàng Tấn T. Có mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH V1. Địa chỉ: 1 T, H, C, Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: ông Hà Thanh H, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hà Thanh H, sinh năm: 1981. Địa chỉ: 1 T, phường B, quận H, tp . Vắng mặt.

2. Bà Đặng Hoàng Như Ý, sinh năm: 1980. Địa chỉ: A L, A, quận S, tp . Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

- Vào ngày 22/9/2022, Công ty TNHH V1 có ký Hợp đồng cho vay hạn mức số DNA/22266 vay vốn Ngân hàng TMCP V với hạn mức vay số tiền 2.700.000.000 đồng, thời hạn duy trì vay 12 tháng. Lãi suất vay trong hạn và điều chỉnh lãi suất: do Ngân hàng và Công ty tự thỏa thuận theo từng đợt vay. Trong quá trình vay vốn, giữa các bên đã ký kết các khế ước nhận nợ, cụ thể:

Khế ước nhận nợ số: 130323-3287896-ONL-40 ngày 13/3/2023; Khế ước nhận nợ số: 140323-3287896-ONL-41 ngày 16/3/2023; Khế ước nhận nợ Số: 170323-3287896-ONL-42 ngày 17/3/2023; Khế ước nhận nợ Số: 220323-3287896-ONL-43 ngày 23/3/2023; Khế ước nhận nợ số: 280323-3287896-ONL-44 ngày 28/3/2023; Khế ước nhận nợ số: 040423-3287896-ONL-45 ngày 05/4/2023; Khế ước nhận nợ số: 060423-3287896-ONL-46 ngày 06/4/2023; Khế ước nhận nợ số: 180423-3287896-ONL-47 ngày 19/4/2023; Khế ước nhận nợ số: 200423-3287896-ONL-48 ngày 21/4/2023; Khế ước nhận nợ số: 240523-3287 896-ONL-50 ngày 24/5/2023; Khế ước nhận nợ số: 260523-3287896-ONL-5 ngày 26/5/2023; Khế ước nhận nợ số: 300523-3287896-ONL-52 ngày 30/5/2023.

- Ngày 03/12/2019, Ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng cho Công ty TNHH V1 do ông Hà Thanh H làm giám đốc theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm số 104-C-318580 (sau đây gọi là Hợp đồng thẻ tín dụng), với hạn mức thẻ tín dụng là 300.000.000 đồng, thời hạn: 60 tháng với mức lãi suất do V2 quy định.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty, ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý đã ký các Hợp đồng bảo lãnh, cụ thể:

- Theo Hợp đồng bảo lãnh số DNA/3287896-1/HDBL ngày 03/12/2019 và Hợp đồng bảo lãnh số DNA/22266/BL ngày 22/9/2022 của ông Hà Thanh H ký với Ngân hàng. Bên bảo lãnh cam kết dùng mọi tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của bên bảo lãnh hoặc thu xếp để có tài sản từ tất cả các nguồn khác để bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh và ủy quyền cho Ngân hàng được tự mình yêu cầu Cơ quan chức năng xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của bên bảo lãnh và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

- Theo Hợp đồng bảo lãnh số DNA/19/3287896-2/HDBL ngày 03/12/2019 của bà Đặng Hoàng Như Ý ký với Ngân hàng TMCP V. Bên bảo lãnh cam kết dùng mọi tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của bên bảo lãnh hoặc thu xếp để có tài sản từ tất cả các nguồn khác để bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh và ủy quyền cho Ngân hàng được tự mình yêu cầu Cơ quan chức năng xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của bên bảo lãnh và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng trên, Công ty TNHH V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Tạm tính đến ngày tạm tính đến hết ngày 10/5/2024 là 3.770.998.342 đồng, bao gồm: Nợ gốc 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 627.304.246 đồng, L chậm trả: 3.073.148 đồng và nợ thẻ tín dụng 446.068.449 đồng.

Ngân hàng TMCP V đề nghị Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP . xem xét giải quyết:

Buộc Công ty V1 T1 phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 10/5/2024 là 3.770.998.342 đồng, bao gồm : Nợ gốc 2.694.552.499 đồng, nợ lãi 627.304.246 đồng, L chậm trả 3.073.148 đồng và nợ thẻ tín dụng 446.068.449 đồng. Ngoài ra, kể từ ngày 11/5/2024, Công ty V1 vẫn phải tiếp tục chịu lãi quá hạn, lãi chậm trả theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V3

- Trường hợp Công ty V1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình; hoặc các tài sản không đủ để thanh toán các khoản nghĩa vụ của Công ty V1 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý là người bảo lãnh nghĩa vụ cho Công ty V1 để thanh toán nợ tại V3 theo Hợp đồng bảo lãnh số DNA/3287896-1/HDBL ngày 03/12/2019, Hợp đồng bảo lãnh số DNA/22266/BLCN ngày 22/9/2022 và Hợp đồng bảo lãnh số DNA/19/3287896-2/HDBL ngày 03/12/2019

Tại phiên tòa, đại diện Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, Buộc Công ty V1 phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày 22/8/2024 là 4.008.531.446 đồng, bao gồm : Nợ gốc 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 823.193.861 đồng, L chậm trả 4.089.681 đồng và nợ thẻ tín dụng 486.695.405 đồng

* Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Công ty V1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và không có trình bày gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

* Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Ông Hà Thanh H: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, ông Hà Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và không có trình bày gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng

2. Bà Đặng Hoàng Như Ý: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, bà Đặng Hoàng Như Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng và không có trình bày gửi đến Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn Ngân hàng V yêu cầu bị đơn Công ty V1 Tường trả số tiền nợ vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức số DNA/22266 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, quan hệ pháp luật là tranh chấp kinh doanh thương mại về Hợp đồng tín dụng.

[2] Về thẩm quyền: Bị đơn Công ty V1 có địa chỉ theo Giấy đăng ký kinh doanh tại 1 T, H, C, Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa Ngân hàng và Công ty V1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

[3] Về việc xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty V1, ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Công ty V1, ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý không xuất trình bất kỳ tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên phải chịu hậu quả về việc không đưa ra chứng cứ để chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với khoản tiền nợ gốc và nợ lãi:

[4] Giữa Công ty V1 và Ngân hàng có ký kết Hợp đồng cho vay hạn mức số DNA/22266 và Hợp đồng thẻ tín dụng với mục đích phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Các hợp đồng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các chủ thể tham gia ký kết có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự. Hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 117, 398, 401 và 463 Bộ luật Dân sự và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế mà các bên ký kết có hình thức và nội dung phù hợp với các Điều 13 đến 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng nên có hiệu lực đối với các bên đã tham gia giao dịch. Do đó, HĐXX có cơ sở để xác định Công ty V1 có quan hệ tín dụng với Ngân hàng.

[5] Theo Điều 2 của Hợp đồng cho vay ngày 22/9/2022 thì thời hạn duy trì hạn mức vay số tiền 2.700.000.000 đồng là 12 tháng. Căn cứ vào hợp đồng vay, các bên đã ký kết các Khế ước nhận nợ với thời gian trả nợ theo từng khế ước được quy định cụ thể. Đây là hợp đồng vay có kỳ hạn, có lãi và các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết đã ký kết. Theo thoả thuận trong hợp đồng thì Công ty V1 có nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng đúng hạn hàng tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty V1 đã vi phạm phân kỳ trả nợ. Do đó, Ngân hàng đã khởi kiện Công ty V1 thanh toán toàn bộ số tiền nợ trước hạn là phù hợp với thỏa thuận của hai bên quy định tại Điều 4 của Hợp đồng cho vay ngày 22/9/2022, và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[6] Theo Hợp đồng thẻ tín dụng thì thời hạn sử dụng thẻ là 60 tháng . Nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, công ty V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty thanh toán toàn bộ số tiền nợ trước hạn là phù hợp với thỏa thuận của hai bên và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

[7] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định Công ty V1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 4.008.531.446 đồng, bao gồm : Nợ gốc 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 823.193.861 đồng, L chậm trả 4.089.681 đồng và nợ thẻ tín dụng là 486.695.405 đồng

[8] HĐXX xét thấy: Bị đơn Công ty V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, vi phạm thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký kết với Ngân hàng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty V1 có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 4.008.531.446 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 823.193.861 đồng, L chậm trả là 4.089.681 đồng và nợ thẻ tín dụng là 486.695.405 đồng và lãi tiếp tục tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty V1 trả dứt điểm số tiền trên theo lãi suất đã ký kết là có cơ sở và phù hợp với các điều khoản trong Hợp đồng cho vay và Hợp đồng thẻ tín dụng; cũng như phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng nên HĐXX chấp nhận.

Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ

[9] Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Công ty, ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý đã ký các Hợp đồng bảo lãnh, cụ thể:

- Theo Hợp đồng bảo lãnh số DNA/3287896-1/HDBL ngày 03/12/2019 và Hợp đồng bảo lãnh số DNA/22266/BL ngày 22/9/2022 của ông Hà Thanh H ký với Ngân hàng TMCP V.

- Theo Hợp đồng bảo lãnh số DNA/19/3287896-2/HDBL ngày 03/12/2019 của bà Đặng Hoàng Như Ý ký với Ngân hàng TMCP V.

Căn cứ các Hợp đồng bảo lãnh trên, ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý cam kết dùng mọi tài sản thuộc quyền sử dụng, sở hữu hợp pháp của mình hoặc thu xếp để có tài sản từ tất cả các nguồn khác để bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên được bảo lãnh và ủy quyền cho Ngân hàng được tự mình yêu cầu Cơ quan chức năng xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của bên bảo lãnh và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ (theo khoản 3 Điê 4 của các Hợp đồng bảo lãnh).

Xét thấy: Các hợp đồng bảo lãnh này được ký kết dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, hành vi dân sự, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực thi hành theo quy định tại các Điều 117, 335, 336, 338, 339 Bộ luật Dân sự.

Tại các Hợp đồng bảo lãnh, các ông bà có nghĩa vụ thực hiện thay Công ty thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Công ty đối với Ngân hàng một cách vô điều kiện và không hủy ngang trong trường hợp Công ty thực hiện không đúng hoặc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng (Điều 2 của các Hợp đồng bảo lãnh).

Điều 338 BLDS quy định: Khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập; bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người bảo lãnh liên đới phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Vì vậy, trong trường hợp Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý phải thực hiện việc bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ thanh toán của Công ty đối với Ngân hàng. Do đó, yêu cầu của Ngân hàng buộc ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý phải liên đới thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ là có căn cứ chấp nhận.

[10] Từ những lập luận trên, HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc Công ty có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 4.008.531.446 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 823.193.861 đồng, L chậm trả là 4.089.681 đồng và nợ thẻ tín dụng là 486.695.405 đồng và lãi tiếp tục tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty V1 trả dứt điểm số tiền trên theo lãi suất đã ký kết; trường hợp Công ty V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý phải thực hiện việc bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ thanh toán của Công ty đối với Ngân hàng

[11] Về án phí: Công ty V1 chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Điều 26, 35, 39, 157,158, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 398, 401 và 463 Bộ luật Dân sự;
  • Điều 91, khoản 1 Điều 95 và điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • Điều 4 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Quy chế ban hành theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2017 của Thống đốc Ngân hàng N; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng; Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Ngân hàng N về việc ban hành Quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng N và các tổ chức tín dụng

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với Công ty TNHH V1.

2. Buộc Công ty TNHH V1 phải trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền tính đến ngày 22/8/2024 là 4.008.531.446 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 2.694.552.499 đồng, nợ lãi: 823.193.861 đồng, L chậm trả là 4.089.681 đồng và nợ thẻ tín dụng là 486.695.405 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng cho vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Trường hợp Công ty TNHH V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP V thì ông Hà Thanh H và bà Đặng Hoàng Như Ý có nghĩa vụ liên đới thực hiện việc bảo lãnh cho toàn bộ nghĩa vụ thanh toán của Công ty đối với Ngân hàng

4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH V1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.008.531 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí 53.709.000 theo biên lai thu số 0001643 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP V và Công ty TNHH V1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger