Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/KDTM-ST

Ngày 28/8/2024

V/v “Tranh chấp về hợp đồng

tín dụng, thế chấp”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo, ông Lê Quang Hùng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 07/2022/TLST-KDTM ngày 12/12/2022 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 10/2024/QĐXXST-KDTM ngày 02/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N1 (A). Địa chỉ: Số B, phố L, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan T – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1, chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An; theo Quyết định ủy quyền lại tham gia tố tụng và thi hành án dân sự số 200/QĐ-NHNo DC ngày 22/7/2024; có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1976 và bà Tăng Thị H1, sinh năm 1979; địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh năm 2003; địa chỉ: Xóm A, xã D. huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N1 trình bày: Ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam huyện N1 theo Hợp đồng tín dụng số 2218/HĐTD ký kết ngày 24/4/2018, mục đích sử dụng tiền vay để chi phí sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình; cụ thể từng đợt nhận nợ như sau:

  • Lần nhận nợ thứ nhất: Số tiền nhận nợ 100.000.000 đồng, lãi suất 11%/năm, mục đích vay vốn mua sắm vật dụng sinh hoạt, thời hạn vay vốn 12 tháng, phân kỳ trả gốc 01 kỳ, ngày vay 26/4/2018. Ông H, bà H1 đã được ngân hàng gia hạn trả nợ 01 năm từ ngày 24/4/2019, số tiền gốc 100.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 24/4/2020. Ông H, bà H1 đã trả được số tiền gốc 4.000.000 đồng, tiền lãi 15.932.126 đồng. Ngày quá hạn 25/4/2020, số tiền gốc quá hạn 96.000.000 đồng.
  • Lần nhận nợ thứ hai: Số tiền nhận nợ 100.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, mục đích vay vốn mua bò, ngày vay 26/4/2018, thời hạn vay vốn 36 tháng, phân kỳ trả gốc 03 kỳ: Ngày 24/4/2019 trả 30.000.000 đồng, ngày 24/4/2020 trả 30.000.000 đồng, ngày 24/4/2021 trả 40.000.000 đồng. Ông H, bà H1 đã được ngân hàng gia hạn trả nợ 01 năm từ ngày 24/4/2019, số tiền gốc 100.000.000 đồng, ngày trả nợ cuối cùng 24/4/2022. Ông H, bà H1 chưa trả gốc, trả lãi 14.172.361 đồng. Do ông H, bà H1 được gia hạn trả nợ 01 năm nên đến ngày 24/4/2020 lần hạn trả nợ kỳ đầu tiên nhưng ông H, bà H1 không trả nợ. Vì vậy ngày quá hạn là ngày 25/4/2020, số tiền gốc quá hạn 100.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 19, diện tích 260m² tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK 987808 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 16/11/2017 mang tên ông Nguyễn Trọng N (để thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Trọng H ngày 03/01/2018).

Trong quá trình vay vốn, ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 mới trả được 4.000.000 đồng tiền gốc và 30.104.487 đồng tiền lãi, vi phạm nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng. Đến ngày 29/12/2021, Ngân hàng N1 có Văn bản số 12333/NHNo-TD điều chỉnh lãi suất, miễn, giảm lãi để thu hồi nợ sau xử lý trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 và Văn bản số 195/NHNo-KHNV ngày 11/01/2022 hướng dẫn lãi suất cho vay theo Văn bản số 12333/NHNo-TD ngày 29/12/2021 thì đối với các khoản nợ từ ngày 15/7/2021 trở về trước được điều chỉnh về cùng một mức lãi suất là 4,98 % từ ngày giải ngân của khoản vay và không tính lãi quá hạn đối với khách hàng. Dó đó, khoản vay của ông H, bà H1 được áp dụng mức lãi suất là 4,86% từ thời điểm vay cho đến thời điểm trả nợ. Sau khi khoản nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần tìm cách làm việc yêu cầu khách hàng trả nợ nhưng không được nên ngày 18/5/2021, Ngân hàng làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu. Tính đến ngày 28/8/2024, ông H và bà H1 đang nợ Ngân hàng số tiền 226.667.951 đồng, trong đó: nợ gốc 196.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 30.667.951 đồng. Nay, Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Buộc ông Nguyễn Trọng H, bà Tăng Thị H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 tổng số tiền tính đến ngày 28/8/2024 là 226.667.951 đồng; trong đó, số tiền nợ gốc 196.000.000 đồng, số tiền nợ trong hạn 30.667.951 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với mức lãi suất 4,86%/năm cho đến khi trả hết nợ cho ngân hàng.
  • + Trong trường hợp ông Nguyễn Trọng H, bà Tăng Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 thì đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là thửa đất số 162, tờ bản đồ số 19, tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK 987808 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 1611/2017 mang tên ông Nguyễn Trọng N để lại thừa kế, tặng cho ông Nguyễn Trọng H để trả nợ cho Ngân hàng và các chi phí liên quan.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 đều vắng mặt. Theo kết quả xác minh tại Công an xã D, huyện D thì ông Nguyễn Trọng H, sinh năm 1976 và bà Tăng Thị H1, sinh năm 1979; đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tuy nhiên hiện nay, ông H, bà H1 đều không có mặt tại địa phương, Công an xã D không biết ông H, bà H1 đang ở đâu vì khi đi họ không đăng ký tạm trú, tạm vắng. Còn bà Tăng Thị H1 hiện đang bỏ trốn, bị Công an tỉnh N truy nã về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ Công văn số 13109/QLXNC-P5 ngày 24/6/2022 của Cục Q Bộ C thì ông Nguyễn Trọng H có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối cùng xuất cảnh ngày 22/5/2018 qua cửa khẩu N2, bà Tăng Thị H1 có thông tin xuất cảnh ngày 18/10/2018 qua cửa khẩu N2, hiện cả hai ông bà chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Tòa án đã tống đạt các Thông báo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... cho chị Nguyễn Thị Quỳnh T1 (con gái ông H, bà H1). Đồng thời, tiến hành niêm yết các văn bản trên tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông H, bà H1 nhưng ông H, bà H1 vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được.

Người làm chứng chị Nguyễn Thị Quỳnh T1 trình bày: Chị Quỳnh T1 là con gái của ông H, bà H1. Ông H, bà H1 đi nước ngoài từ khoảng năm 2018. Hiện tại, ông H, bà H1 đang ở Đức. Ông H thỉnh thoảng có liên lạc về với gia đình qua điện thoại để hỏi thăm sức khỏe của mọi người nhưng gia đình không biết địa chỉ của ông H ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Bà H1 hiện nay ở đâu, làm gì thì gia đình không biết và không liên lạc được. Chị T1 đã nhận được quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án, chị T1 đã thông báo cho ông H biết về việc thụ lý vụ án giữa Ngân hàng N1 với ông H, bà H1 nhưng ông H

không có ý kiến gì. Nguyện vọng của chị T1 mong muốn phối hợp với ngân hàng để trả nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 30, 35, 39, 144, 147, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, Khoản 2 Điều 292; Điều 295; 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 463, 466, 468, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 và buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Về chi phí thẩm định tại chỗ: Ngân hàng N1 thỏa thuận chịu chi phí thẩm định tại chỗ đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa hai bên, trong trường hợp không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì đề nghị xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật. Ông H, bà H1 có địa chỉ cư trú tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Căn cứ thông tin do Cục Q, Bộ C cung cấp tại Công văn số 13109/QLXNC-P5 ngày 24/6/2022 thì ông Nguyễn Trọng H đã xuất cảnh ngày 22/5/2018 và bà Tăng Thị H1 đã xuất cảnh ngày 18/10/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Ngân hàng là tổ chức có đăng ký kinh doanh; ông H, bà H1 vay vốn để sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống hộ gia đình; cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án Kinh doanh thương mại là đúng loại việc, thẩm quyền và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp” là có căn theo quy định theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. [2] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Tại thời điểm ký kết hợp đồng ông H, bà H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây nhưng đã xuất cảnh đi nước ngoài từ năm 2018, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nên được xác định là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông H, bà H1.
  3. [3] Xét các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1:
    1. [3.1] Về nợ gốc: Mặc dù trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà H1 vắng mặt và không có ý kiến trình bày về khoản nợ đối với ngân hàng. Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu, chứng cứ do ngân hàng cung cấp thể hiện ngày 24/4/2018, ông Nguyễn Trọng H, bà Tăng Thị H1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 2218/HĐTD với Ngân hàng N1, chi nhánh huyện D, phòng giao dịch xã D để vay số tiền 200.000.000 đồng. Việc ký kết hợp đồng là tự nguyện, tại thời điểm ký kết các bên đều có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật với các bên đã ký kết. Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông H, bà H1 đã nhận đủ số tiền vay 200.000.000 đồng thể hiện tại Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804233 và Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804234 ngày 26/4/2018. Đến ngày 16/4/2019, Ngân hàng và ông Nguyễn Trọng H ký kết phụ lục Hợp đồng tín dụng có nội dung sửa đổi, bổ sung Điều 3 Hợp đồng tín dụng số 2218/HĐTD để phân kỳ gia hạn thời hạn cho vay là đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804233 thời hạn trả nợ gốc là 24/4/2020, đến ngày 14/01/2020 ông H mới chỉ trả được 4.000.000 đồng tiền gốc và 15.932.126 đồng tiền lãi; đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804234 thời hạn trả nợ gốc: ngày 24/4/2020 là 30.000.000 đồng, ngày 24/4/2021 là 30.000.000 đồng, ngày 24/4/2022 là 40.000.000 đồng, đến ngày 11/9/2019 ông H mới chỉ trả được 14.172.361 đồng tiền lãi; còn lại không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ theo hợp đồng mà hai bên đã cam kết thỏa thuận. Ông H, bà H1 đã vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và tiền lãi đã ký với Ngân hàng. Như vậy đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS2-01804234 thời hạn trả nợ gốc cuối cùng là ngày 24/4/2022. Tuy nhiên, do ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS201804233 và số tiền nợ gốc của Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804234 là 30 triệu đồng theo phân kỳ trả nợ nên ngày 18/5/2021 ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả nợ là có căn cứ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông H, bà H1 đều không có mặt và cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác thể hiện về việc đã trả hết số tiền nợ gốc. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc ông Nguyễn Trọng H, bà Tăng Thị H1 trả số tiền nợ gốc còn lại 196.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 466 Bộ luật Dân sự.
    2. [3.2] Về lãi suất: Theo quy định tại Điều 3 Hợp đồng tín dụng số 2218/HĐTD ngày 24/4/2018, các bên đã ký kết thì lãi suất cho vay áp dụng lãi thỏa thuận có biến đổi. Lãi suất tiền vay cao nhất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 11,5%/năm; lãi suất cho vay và phương thức trả lãi được ghi trên từng giấy nhận nợ. Theo Giấy nhận nợ lần thứ nhất, số tiền vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 11%/năm; lãi cho vay sẽ được điều chỉnh tăng khi NHNo &PTNT chi nhánh huyện D tăng lãi suất cho vay, thời điểm tăng lãi suất tính từ ngày Giám đốc NHNo &PTNT chi nhánh huyện D ra thông báo tăng lãi suất cho vay; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn. Lần nhận nợ thứ hai, số tiền vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 10%/năm; lãi cho vay sẽ được điều chỉnh tăng khi NHNo &PTNT chi nhánh huyện D tăng lãi suất cho vay, thời điểm tăng lãi suất tính từ ngày Giám đốc NHNo &PTNT chi nhánh huyện D ra thông báo tăng lãi suất cho vay; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn. Như vậy, lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ là đúng quy định pháp luật, phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Tuy nhiên, đến ngày 29/11/2021, Ngân hàng N1 có Văn bản số 12333/NHNo-TD về điều chỉnh, miễn, giảm lãi suất để thu hồi nợ sau xử lý trong điều kiện dịch Covid-19 và Văn bản số 195/ NHNo-KHNV ngày 11/01/2022 hướng dẫn lãi suất cho vay theo Văn bản số 12333/NHNo-TD thì đối với các khoản nợ từ ngày 15/7/2021 trở về trước được điều chỉnh về cùng một mức lãi suất là 4,86%/năm kể từ ngày giải ngân khoản vay và không tính lãi quá hạn đối với khách hàng. Trên cơ sở đó, Ngân hàng đã tính toán cụ thể: Đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804233, số tiền lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 29.916.296 đồng, ông H, bà H1 đã trả 15.932.126 đồng, số tiền lãi chưa trả là 13.984.170 đồng; đối với Giấy nhận nợ số 3605-LDS-201804234, số tiền lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 30.856.142 đồng, ông H, bà H1 đã trả 14.172.361 đồng, số tiền lãi chưa trả là 16.683.781 đồng; tổng cộng số tiền lãi chưa trả là 30.667.951 đồng. Việc tính toán trên phù hợp với nội dung các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận và cần buộc bị đơn trả cho ngân hàng khoản tiền lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 30.667.951 đồng.

      Như vậy, tổng số tiền mà ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 phải trả cho Ngân hàng N1 là 226.667.951 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là: 196.000.000 đồng; nợ lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 30.667.951 đồng.

      Ngoài ra, do trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/8/2024) cho đến khi thi hành án xong, ông H, bà H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 4,86%/năm theo Văn bản điều chỉnh, miễn, giảm lãi suất của Ngân hàng N1.

    3. [3.3] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, thấy rằng: Để bảo đảm cho khoản vay, ông H, bà H1 đã thế chấp thửa đất số 162, tờ bản đồ số 19, diện tích 260m² tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK 987808 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 16/11/2017 mang tên ông Nguyễn Trọng N để lại thừa kế, tặng cho ông Nguyễn Trọng H ngày 03/01/2018 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2218/HĐTC ngày 24/4/2018 giữa ông Nguyễn Trọng H với Ngân hàng N1, chi nhánh huyện D, tỉnh Nghệ An, Phòng G. Xét thấy, tài sản thế chấp nêu trên mang tên ông Nguyễn Trọng N đã để lại thừa kế, tặng cho ông Nguyễn Trọng H được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện D, tỉnh Nghệ An xác nhận nên có cơ sở xác định tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Trọng H. Việc thế chấp là trên cơ sở tự nguyện. Hợp đồng thế chấp sau khi ký kết đã được công chứng tại Văn phòng C1, huyện D, tỉnh Nghệ An và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân huyện D. Vì vậy, Hợp đồng thế chấp này đã đảm bảo theo đúng các trình tự, thủ tục quy định tại Điều 317, 319 Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên ký kết. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N1: Trong trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 2218/HĐTC ngày 24/4/2018.
    4. [4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng N1 tự nguyện chịu nên miễn xét.
    5. [5] Về án phí sơ thẩm: Ngân hàng N1 khởi kiện được chấp nhận nên ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm; trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273, 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, 94, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 117, 292, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định 21/2021/NĐ-CP 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sựbảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

    Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1,

    • Buộc ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 số tiền nợ 226.667.951 đồng (Hai trăm hai mươi sáu triệu, sáu trăm sáu mươi bảy ngàn, chín trăm năm mươi mốt đồng), trong đó: số tiền nợ gốc là: 196.000.000 đồng; nợ lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 30.667.951 đồng.
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/8/2024), ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 4,86%/năm cho đến khi thi hành xong.
    • Trường hợp ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là thửa đất số 162, tờ bản đồ số 19, diện tích 260m² tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CK 987808 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 16/11/2017 mang tên ông Nguyễn Trọng N để lại thừa kế, tặng cho ông Nguyễn Trọng H ngày 03/01/2018 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2218/HĐTC 24/4/2018 được Văn phòng C1, huyện D công chứng ngày 24/4/2018, số công chứng 3412/2018, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, để thu hồi nợ cho ngân hàng.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  2. 2. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông Nguyễn Trọng H và bà Tăng Thị H1 phải chịu 11.333.000 đồng (Mười một triệu, ba trăm ba mươi ba ngàn đồng) án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm; trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 5.943.000 đồng (Năm triệu, chín trăm bốn mươi ba ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001440 ngày 04/11/2021.
  3. 3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Diễn Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Duy Bảo

Lê Quang Hùng

Nguyễn Thị Thu Từ

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp

  • Số bản án: 08/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng, thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng tín dung, thế chấp Ngân hàng A - Nguyễn Trọng H, Tăng Thị H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger