Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 08/2024/KDTM-ST

Ngày 16-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Võ Văn Hùng.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Vân.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà:

Bà Đỗ Thị Mỹ Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2024/TLST-KDTM ngày 27 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-KDTM ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QÐST-KDTM ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F.

Địa chỉ: Khu V, đường L, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Trường N, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn A, chức vụ: Giám đốc Chi nhánh, theo Văn bản ủy quyền số 21/HĐUQ-Cty ngày 27/12/2023 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ E, Khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T1.

Địa chỉ: số F, ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Thành N1, chức vụ: Giám đốc (vắng mặt).

Địa chỉ: số C, đường N, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F là ông Hoàng Văn A trình bày:

Ngày 15/8/2018 được sự ủy quyền của Công ty TNHH Một thành viên F (sau đây gọi tắt là Công ty F), Chi nhánh Công ty TNHH Một thành viên F – Xí nghiệp D (gọi tắt là Xí nghiệp D) có ký hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa số 87/HĐMB-2018 với Công ty TNHH Một thành viên T1 (gọi tắt là Công ty T1). Theo nội dung hợp đồng Xí nghiệp 406 bán cho Công ty N2 với số lượng 700 tấn, đơn giá 1.299.980 đồng/tấn, thành tiền là 909.986.000 đồng. Thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày 15/01/2018 đến hết này 25/12/2018. Ngoài ra hợp đồng còn ghi nhận sự thỏa thuận của các bên về quy cách, chất lượng, chủng loại, địa điểm giao nhận, bốc xếp, trách nhiệm mỗi bên,...

Quá trình thực hiện hợp đồng số 87/HĐMB-2018 đến nay Công ty T1 còn nợ lại số tiền 190.289.010 đồng theo T xác nhận phải thu khách hàng ngày 02/01/2019, có chữ ký xác nhận của ông Dương Thành N1 giám đốc Công ty T1.

Sau khi ký biên bản xác nhận công nợ, Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dù đã được nhắc nhỡ nhiều lần.

Nay Công ty F yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền nợ mua hàng là 190.289.010 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập cho bị đơn Công ty T1 nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến và không đến Tòa án tham gia phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, nguyên đơn Công ty F vẫn nguyên yêu cầu khởi kiện và có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử.

Bị đơn Công ty T1 vắng mặt không có lý do.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Công ty F yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền nợ mua hàng là 190.289.010 đồng. Ngoài ra các đương sự không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Công ty T1 có trụ sở tại số F, ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty F có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử. Bị đơn Công ty T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của Công ty F yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền nợ mua hàng là 190.289.010 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 15/01/2018 Công ty F - Chi nhánh Xí nghiệp D và Công ty T1 đã ký Hợp đồng mua bán hàng hóa số 87/HĐMB-2018, thỏa thuận nội dung Công ty F - Chi nhánh Xí nghiệp 406 bán cho Công ty N2 với số lượng 700 tấn, đơn giá 1.299.980 đồng/tấn, thành tiền là 909.986.000 đồng. Thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày 15/01/2018 đến hết này 25/12/2018. Công ty F - Chi nhánh Xí nghiệp D và Công ty T1 đã tự nguyện thoả thuận ký kết hợp đồng mua bán tài sản là xi măng theo hình thức, nội dung phù hợp với quy định tại Điều 385, 401 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 24 Luật thương mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019. Do đó, Hợp đồng mua bán hàng hóa số 87/HĐMB-2018 phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Quá trình thực hiện hợp đồng số 87/HĐMB-2018 Công ty T1 còn nợ lại số tiền 190.289.010 đồng theo T xác nhận phải thu khách hàng ngày 02/01/2019, có chữ ký xác nhận của ông Dương Thành N1 giám đốc Công ty T1 (bút lục 14). Tuy nhiên, từ ngày 02/01/2019 đến nay Công ty T1 không thực hiện trả tiền là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ theo thỏa thuận tại hợp đồng số 87/HĐMB-2018. Do vậy, Công ty F yêu cầu Công ty T1 thanh toán số tiền còn nợ 190.289.010 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp quy định tại Điều 50, Điều 55 Luật thương mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019 nên có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp kinh doanh thương mại có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội là 9.514.000 đồng.

[4] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 40, Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 357, Điều 385 và Điều 401 Bộ Luật Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 55 Luật thương mại năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T1 phải trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F số tiền 190.289.010 đồng, trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

  1. Về án phí:

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định là 9.514.000 đồng (Chín triệu năm trăm mười bốn nghìn đồng).

Hoàn lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 4.757.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006348 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

  1. Về quyền kháng cáo: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên F, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP. Mỹ Tho;
  • - Chi cục THADS TP. Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/KDTM-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 08/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger