|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 08/2024/HS - ST Ngày 17/5/2024. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Tuấn.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ba Duy;
- Ông Tạ Việt Hồng.
- Thư ký phiên toà: Bà Kim Thị Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- QĐ ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bằng G (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.
Ngày, tháng, năm sinh: 24/11/1990, tại tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ dân phố số A, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Chức vụ trước khi phạm tội: (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không.
Họ và tên bố: Nguyễn Văn T (Đã chết).
Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Minh L, sinh năm 1969.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Họ và tên vợ: Vi Thị Kiều T1, sinh năm 2000, có 01 con, sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08 ngày 26/4/2011 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thi hành xong bản án ngày 07/3/2013.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thái Nguyên (Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến nay). (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Trần Đình T2, sinh năm 1988.
- Chị Phan Thị S, sinh năm 1978.
- Anh Đào Văn C, sinh năm 1978.
- Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989.
- Anh Lê Minh A, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố số B, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết vợ chồng Phan Thị S, sinh năm 1978, Đào Văn C, sinh năm 1978 cùng trú tại: Xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên và Hoàng Văn Đ, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố số B, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng tháng 7 năm 2022 Nguyễn Bằng G gặp vợ chồng Phan Thị S và gặp Hoàng Văn Đ đặt vấn đề mua bán số lô, số đề. Sau khi trao đổi, G thoả thuận bán số lô cho S với giá 21.800 đồng/01 điểm lô, bán cho Đ với giá 22.000 đồng/01 điểm lô; số đề, 3 càng, lô xiên nếu S và Đ mua hàng ngày G sẽ trích lại 25% tổng số tiền cho S và Đ, nhưng nếu S và Đ trúng thưởng thì G vẫn thanh toán tiền theo đúng số tiền đã mua. Hàng ngày sau khi đối chiếu với kết quả Xổ số kiến thiết Miền Bắc nếu S, Đ trúng thưởng thì G sẽ trả 80.000 đồng/01 điểm lô; gấp 10 lần số tiền đã mua đối với lô xiên 2; gấp 40 lần đối với lô xiên 3; gấp 70 lần số tiền đã mua đối với số đề; gấp 350 lần số tiền đã bỏ ra mua đối với lô 3 càng. Thoả thuận xong G cung cấp cho S, Đoàn số thuê bao 0378.699.842 để liên lạc và gửi số lô, số đề cho G vào cuối ngày và khi G hoặc Sim, Đ nợ từ 5 triệu đến 10 triệu thì phải thanh toán cho nhau, việc thanh toán có thể trực tiếp hoặc qua số tài khoản 5880188988888 của G mở tại ngân hàng Q.
Việc mua bán số lô, số đề giữa G với S, Đ được thực hiện từ khoảng tháng 7 năm 2022 đến khoảng đầu tháng 11 năm 2022 do bận việc nên G đã thuê Trần Đình T2, sinh năm 1988, trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, sử dụng số thuê bao 0378.699.842 nêu trên để 17 giờ hàng ngày T2 lắp sim vào điện thoại và nhận tin nhắn của S, Đoàn sau đó tổng hợp, dựa trên kết quả mở thưởng trong ngày của Xổ số kiến thiết M để đối chiếu được thua rồi thông báo lại cho G, S, Đoàn kết q. G trả công cho T2 3.000.000 đồng/01 tháng. Đến giữa tháng 12 năm 2022 T2 nói với G việc sử dụng 01 số thuê bao nêu trên có thể bị Cơ quan Công an phát hiện nên ngày 14/12/2022 G đã xin anh Lê Minh A, sinh năm 1999, trú tại: Xóm L, xã L, huyện V 01 chiếc thẻ sim có số thuê bao 0375.921.861 để T2 sử dụng nhận số lô, số đề do S, Đ gửi. Sau khi nhận chiếc thẻ sim do G đưa, T2 lắp vào điện thoại rồi nhắn tin cho S và Đ biết để hàng ngày nhắn tin giao dịch mua bán số lô, số đề với T2.
Ngày 22/12/2022 Phan Thị S nhắn tin vào số thuê bao 0375.921.861 mua nhiều số lô, số đề với tổng số tiền là 5.792.000 đồng. Ngày 22/12/2022 Hoàng Văn Đ nhắn tin mua các số lô 85, 67, 50, 76, 58, 55, 42 mỗi số 50 điểm; các số đề 67, 85 mỗi số là 150.000 đồng; lô xiên 3: 58, 55, 42 là 300.000 đồng; lô xiên 3: 85:67:76 và 58:55:42 mỗi lô xiên là 300.000 đồng. Tổng số tiền Đ mua là 7.800.000 đồng. Sau khi nhận được các tin nhắn mua số lô, số đề của S, Đ thì T2 đã nhắn tin “OK” xác nhận giao dịch. Sau khi T2 nhắn tin xác nhận đồng ý giao dịch, chưa có kết quả mở thưởng thì 17 giờ 45 phút ngày 22/12/2022 Công an huyện V phát hiện hành vi mua số lô, số đề của Phan Thị S, Hoàng Văn Đ như nêu trên. Nguyễn Bằng G khi biết Cơ quan Công an phát hiện đã gọi điện thông báo cho Trần Đình T2 biết sự việc rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 29/12/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo về tội “Đánh bạc” đối với Phan Thị S, Đào Văn C, Hoàng Văn Đ và Trần Đình T2 theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngày 13/3/2023 ra Quyết định khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Bằng G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 54 ngày 28/9/2023 Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, xử phạt Trần Đình T2 10 tháng tù, Phan Thị S 12 tháng tù, Đào Văn C 12 tháng tù, Hoàng Văn Đ 15 tháng tù về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, nên tại Bản án hình sự phúc thẩm số 11 ngày 23/11/2023 Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phan Thị S 6 tháng tù, Hoàng Văn Đ 7 tháng tù, Đào Văn C 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Bằng G sau khi bỏ trốn đến ngày 17/12/2023 thì bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V.
Cáo trạng số 09/CT- VKSVN ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Nguyễn Bằng G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết thúc thẩm vấn Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Bằng G về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bằng G từ 10 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 17/12/2023.
- * Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 triệu đồng.
- * Về vật chứng: Đã được xử lý theo Bản án số 54/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận bào chữa gì.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội phạm:
Ngày 22/12/2022 tại Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Bằng G cùng Trần Đình T2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 13.592.000 đồng. Trong đó số tiền đánh bạc với Phan Thị S và Đào Văn C là 5.792.000 đồng, số tiền đánh bạc với Hoàng Văn Đ là 7.800.000 đồng, thì bị Công an huyện V phát hiện bắt giữ. Sau khi biết Phan Thị S bị bắt, Nguyễn Bằng G đã bỏ trốn khỏi địa phương đến ngày 17/12/2023 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.
Hành vi đánh bạc với số tiền 13.592.000 đồng của Nguyễn Bằng G đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Nguyễn Bằng G theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án thấy: Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà mình đã gây ra.
Xét nhân thân của bị cáo thấy bị cáo sinh ra và lớn lên được gia đình nuôi ăn học hết lớp 11 phổ thông, ngày 26/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thi hành xong bản án ngày 07/3/2013; ngày 22/12/2022 thực hiện hành vi “Đánh bạc” bị phát hiện xử lý.
Xét vai trò đồng phạm: Trong vụ án này bị cáo đã thuê Trần Đình T2 để giúp mình giao dịch với các đối tượng, bị cáo không biết được T2 đã giao dịch ngày 22/12/2022 số lượng bao nhiêu tiền, tuy nhiên bị cáo thừa nhận trách nhiệm của mình đối với hành vi của T2 nên vai trò đồng phạm đối với số tiền phạm tội của T2 và bị cáo G là như nhau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bằng G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân xấu, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã trốn tránh việc xử lý của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội trong cùng một vụ việc với Trần Đình T2, Phan Thị S, Đào Văn C, Hoàng Văn Đ, Tòa án đã xét xử và xử phạt hình phạt chính đối với Trần Đình T2 10 tháng tù; Phan Thị S 06 tháng tù; Đào Văn C 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Hoàng Văn Đ 07 tháng tù và hình phạt bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng, hiện T2, C, Sim, Đ đều đang thi hành án.
Xét vị trí vai trò đồng phạm, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cần lên cho bị cáo mức án cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và mức thời hạn tù 10 tháng là phù hợp.
* Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính răn đe cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bằng hình hình phạt tiền đối với bị cáo mức phạt 15.000.000 đồng là phù hợp.
[4] Về vật chứng: Tại Bản án số 54/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai xét xử đối với các bị cáo Trần Đình T2, Phan Thị S, Đào Văn C, Hoàng Văn Đ, Triệu Phúc H, Lý Trung K, Hoàng Văn T3 đã xử lý đối với toàn bộ vật chứng liên quan, nên trong vụ án này không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Quá trình điều tra Nguyễn Bằng G, Phan Thị S, Hoàng Văn Đ, Đào Văn C khai nhận việc mua bán số lô, số đề diễn ra từ khoảng tháng 7 năm 2022. Tuy nhiên quá trình điều tra không xác định được số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ, xử lý.
Đối với Trần Đình T2, Phan Thị S, Hoàng Văn Đ, Đào Văn C có hành vi đánh bạc cùng Nguyễn Bằng G, đã được xét xử theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bằng G phạm tội “Đánh bạc”.
1. Về hình phạt
1.1. Hình phạt chính:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bằng G 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2023.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo G trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
1.2. Hình phạt bổ sung:
Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Nguyễn Bằng G 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về vật chứng:
Đã được xử lý tại Bản án số 54/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. (Bản án đã có hiệu lực pháp luật)
4. Về án phí:
Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Bằng G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Kim Tuấn |
Bản án số 08/2024/HS - ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 08/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 10 tháng tù
