Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hứa Văn Hòa
  2. Ông Hoàng Văn Đoàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Chu Xuân Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Công Văn D, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1993 tại: Huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Công Văn T, sinh năm 1959 và bà Lương Thúy T1, sinh năm 1961; có vợ là Hoàng Thị D1, sinh năm 1996 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, trách nhiệm hình sự; Bị cáo hiện bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Công Văn T, sinh ngày 23/12/1959. Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, bị cáo Công Văn D một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển kiểm soát: 12B1 - 021.99 màu sơn đỏ-đen, đi từ nhà tại thôn B, xã H, huyện B đến khu vực bến xe khách thuộc thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Đến nơi bị cáo gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ mặc áo khoác màu đen, cao khoảng 1m60, dáng người gầy, khoảng hơn 30 tuổi) và hỏi người đó có ma túy bán không, người đó bảo có và bị cáo đưa cho người đó 200.000 đồng, người đó đưa cho bị cáo 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong có chứa ma tuý Heroin. Sau khi mua được ma túy, bị cáo lấy hai gói giấy màu vàng có chứa ma túy vừa mua được cất vào bao thuốc lá có sẵn và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo có ý định sử dụng ma túy nên dừng xe vào lề đường và lấy bao thuốc lá có hai gói giấy màu vàng chứa chất ma túy ra để chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến kiểm tra, bị cáo Công Văn D giật mình, hoảng sợ nên làm rơi bao thuốc lá xuống đất cách bị cáo khoảng 30 cm, bị cáo khai và thừa nhận bao thuốc lá nhãn hiệu Tourism, bên trong bao thuốc lá có 02 (hai) gói giấy màu vàng đều chứa chất bột màu trắng đó là chất ma túy Heroin của D vừa đi mua về, mục đích để D sử dụng cho bản thân. Tổ Công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong, thu giữ tang vật gồm: 02 (hai) gói giấy nhỏ màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 12B1 – 021.99.

Tại Kết luận giám định số 227/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,152 gam (đã trừ bì)”.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKS-BG ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia đã truy tố bị cáo Công Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Công Văn D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Về căn cứ pháp luật và hình phạt:

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị xử phạt bị cáo Công Văn D từ 12 đến 18 tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư ghi chữ “Tang vật quả tang của Công Văn D” bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,131 gam Heroine; và các vỏ bao gói cũ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Toursim màu trắng cũ; Trả lại chiếc xe 01 mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 12B1 – 021.99 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Công Văn D cho ông Công Văn T.

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản bảo đảm khả năng thi hành hình phạt tiền nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn và đơn xin miễn án phí nên miễn phí hính sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người có quyền nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công Văn Thủ không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Công Văn D không có ý kiến tranh luận, đồng ý với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, biên bản phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng thu được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Công Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 0,152 gam Heroin để sử dụng cho cá nhân, đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi cất giữ bất hợp pháp 0,152 gam Heroine của bị cáo với mục đích để sử dụng là cất giữ bất hợp pháp, trái quy định của Nhà nước nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân mà vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử nghiêm minh để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội.

[4] Xét về nhân thân: Bị cáo Công Văn D không có tiền án, tiền sự nhưng bản thân là người nghiện ma túy, sống buông thả, không chấp hành quy định của pháp luật.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

[6] Từ những nhận định, đánh giá trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa đã nhận ra hành vi phạm tội, thực sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở lại hòa nhập với cộng đồng, xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, kinh tế phụ thuộc gia đình, tàng trữ với mục đích để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, điều này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan Điều tra.

[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo bị cáo, quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra chưa xác minh được người đàn ông có đặc điểm như bị cáo mô tả. Khi nào xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về vật chứng: Đối với 01 (một) gói giấy đựng 0,131 gam Heroine; và các vỏ bao gói cũ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Toursim màu trắng cũ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 12B1 – 021.99, đăng ký xe mang tên Công Văn D được bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy. Qua xác minh, chiếc xe do bố của bị cáo là ông Công V Thủ bỏ tiền ra mua để phục vụ sinh hoạt gia đình chứ không phải tài sản cá nhân của bị cáo. Ông Công Văn T không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe này để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình giải quyết vụ án ông Công Văn T cũng có yêu cầu xin lại chiếc xe nên việc trả lại chiếc xe mô tô cho ông Công V Thủ là có căn cứ.

[11] Về án phí: Do bị cáo Công Văn D là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[13] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2, các điểm a, b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Công Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Công Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo ngày 18/01/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Công Văn D.

  3. Về xử lý vật chứng:

    3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư ghi chữ “Tang vật quả tang của Công Văn D” bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0,131 gam Heroine; và các vỏ bao gói cũ; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Toursim màu trắng cũ.

    3.2. Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu sơn đỏ - đen, biển kiểm soát: 12B1 – 021.99, đăng ký xe mang tên Công Văn D cho ông Công Văn T.

    Hiện trạng các vật chứng nêu trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia.

  4. Về án phí: Bị cáo Công Văn D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia;
  • - Công an huyện Bình Gia;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 08/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do bản thân là người nghiện ma túy nên khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/01/2024, bị cáo Công Văn D một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển kiểm soát: 12B1 - 021.99 màu sơn đỏ-đen, đi từ nhà tại thôn B, xã H, huyện B đến khu vực bến xe khách thuộc thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy. Đến nơi bị cáo gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ mặc áo khoác màu đen, cao khoảng 1m60, dáng người gầy, khoảng hơn 30 tuổi) và hỏi người đó có ma túy bán không, người đó bảo có và bị cáo đưa cho người đó 200.000 đồng, người đó đưa cho bị cáo 02 (hai) gói giấy màu vàng, bên trong có chứa ma tuý Heroin. Sau khi mua được ma túy, bị cáo lấy hai gói giấy màu vàng có chứa ma túy vừa mua được cất vào bao thuốc lá có sẵn và điều khiển xe mô tô đi về. Khi đi đến khu vực thôn B, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo có ý định sử dụng ma túy nên dừng xe vào lề đường và lấy bao thuốc lá có hai gói giấy màu vàng chứa chất ma túy ra để chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến kiểm tra, bị cáo Công Văn D giật mình, hoảng sợ nên làm rơi bao thuốc lá xuống đất cách bị cáo khoảng 30 cm, bị cáo khai và thừa nhận bao thuốc lá nhãn hiệu Tourism, bên trong bao thuốc lá có 02 (hai) gói giấy màu vàng đều chứa chất bột màu trắng đó là chất ma túy Heroin của D vừa đi mua về, mục đích để D sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger