Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HSST

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Đông; Ông Lý Ngọc Sáng.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lò Văn T, sinh năm 1982, tại huyện M, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố I, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Công chức văn hóa xã hội; Nơi công tác: UBND thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu; Trình độ văn hoá: 12/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Đảng viên; Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng số 152-QĐ/UBKTHU ngày 21/8/2024; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn Đ, sinh năm 1945 và con bà: Lùng Thị X (đã chết); Bị cáo có vợ: Chim Thị T1, sinh năm 1987 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh Lai Châu, đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa: Ông Lê Mạnh H- Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Chẻo Chin K, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Bản S, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 14/08/2024, Lò Văn T đi xe khách từ thị trấn M lên bản P, xã H, huyện N để tìm mua ma tuý đem về sử dụng. Khi đến đoạn đường cách ngã ba rẽ vào bản Pa Mu khoảng 200m, T xuống xe và ngồi ở bên đường. Một lát sau, T thấy có một người thanh niên dân tộc Mông (không xác định được lai lịch) đang đi bộ từ dưới suối Nậm Bum lên, T đã hỏi người thanh niên này có mua được heroine không, thì người thanh niên này trả lời là "có". Nghe vậy, T đã đưa 800.000 đồng cho người thanh niên để mua heroine. Nhận được tiền, người thanh niên đó đi bộ về hướng bản Pa Mu, còn T thì ngồi đợi bên đường. Khoảng 20 phút sau, người thanh niên dân tộc Mông quay lại đưa cho T 01 gói heroine, rồi tiếp tục đi về hướng bản Pa Mu . Còn T, sau khi nhận được gói heroine, đã cất giấu vào trong túi quần bên phải mặc trên người, rồi ngồi đợi xe khách để quay về thị trấn M. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T nhìn thấy anh Chẻo Chin K (sinh năm 1979; trú tại xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu) đang điều khiển xe máy đi về hướng thị trấn M, nên T đã xin đi nhờ xe và được anh K đồng ý. Lúc này, do thấy anh K có dáng người thấp bé, nên T đã điều khiển xe chở anh K ngồi sau.

Hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày, Lò Văn T điều khiển xe về đến km 286+600, quốc lộ D, thuộc địa phận bản Nà Hẻ, xã B, huyện M tỉnh Lai Châu, thì bị tổ công tác Công an tỉnh L, phối hợp với Công an huyện M và Công an huyện N bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên phải Tách đang mặc trên người 01 gói heroine, được gói bằng 02 mảnh nilon (bên ngoài màu trắng, bên trong màu xanh).

Tại bản kết luận giám định số 110/KLGD ngày 14/08/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M kết luận: gói chất bột khô màu trắng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng là 3,21 gam.

Tại bản kết luận giám định số 1018/KL-KTHS ngày 16/08/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là ma túy, loại: heroine.

Tại bản cáo trạng số 89/CT- VKS-MT ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do Công an huyện M phát hành bên trong có 2,47 gam heroine; 02 mảnh nilon gồm 01 mảnh màu xanh, 01 mảnh màu trắng; 01 phong bì do công an huyện M phát hành đã bị cắt một đầu.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, nội dung bản luận tội. Bị cáo là người dân tộc ít người, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Quá trình công tác bị cáo có nhiều thành tích và trải qua nhiều lĩnh vực công tác như Công an thị trấn; Bí thư đoàn thị trấn; Cán bộ Tư pháp; Cán bộ Văn hóa xã hội. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức án phù hợp thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, về án phí đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát, bản luận cứ bào chữa của người bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp hơn trong mức đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên; Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 14/08/2024, tại km 286+600, quốc lộ D, thuộc địa phận bản N, xã B, huyện M, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép 3,21 gam heroine, với mục đích để bản thân sử dụng, thì bị phát hiện, bắt quả tang. Do đó hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia mà còn là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng tội phạm khác.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và nhân thân của bị cáo về hành vi phạm tội của mình, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân, đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là hoàn toàn phù hợp, cần chấp nhận.

Đề nghị của bị cáo xin được hưởng mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội cũng như khối lượng heroine bị cáo tàng trữ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Người bào chữa đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn trong khoảng đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung và xử lý án phí đối với bị cáo theo quy định pháp luật là phù hợp với quy định pháp luật và tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản và không giữ chức vụ gì, bị cáo có 02 con còn nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy thu giữ trong vụ án: Lò Văn T khai đã mua của người đàn ông dân tộc Mông với giá 800.000 đồng nhưng không biết địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được để xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Đối với Chẻo Chin K là người đã cho bị cáo đi nhờ xe máy, kết quả điều tra xác định, K không biết việc Lò Văn T mua và tàng trữ ma túy, nên K không phạm tội. Hội đồng xét xử chấp nhận và không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Vật chứng còn lại 01 phong bì công văn do Công an huyện M phát hành bên trong có 2,47 gam heroine; 02 mảnh nilon gồm: 01 mảnh màu xanh; 01 mảnh màu trắng; 01 phong bì do công an huyện M phát hành đã bị cắt một đầu. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì công văn do Công an huyện M phát hành bên trong có 2,47 gam heroine; 02 mảnh nilon gồm: 01 mảnh màu xanh; 01 mảnh màu trắng; 01 phong bì do công an huyện M phát hành đã bị cắt một đầu.
  3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.

    (Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 16/10/2024).

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo; Người bào chữa (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 08/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger