|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày 04-06-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Sơn Lạng; ông Trần Văn Chiu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: ông Y Ker Bkrông - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Vũ Hồ G; sinh ngày: 08/05/1991, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: tổ dân phố F, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lái xe; học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh: tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Hồ S và bà Hoàng Thị H (đã chết); có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; có mặt;
Bị hại: ông Y Ngăm T, sinh năm 1964; trú tại: buôn Y,; đã chết;
Người đại diện của bị hại: anh Y Phiên N, sinh năm 1993; địa chỉ: Buôn D, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Công ty cổ phần T2; địa chỉ: A T, phường T, quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo ủy quyền: anh Võ Văn M, địa chỉ: thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 10 phút ngày 22/9/2023, Vũ Hồ G, có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô mang BKS 51D - 096.07 tham gia giao thông trên quốc lộ B, theo hướng Lâm Đồng - Đắk Lắk. Đến Km39 + 270 thuộc địa phận buôn D, xã Y, huyện L, G phát hiện phía trước khoảng 150m có xe ô tô tải đi ngược chiều, G giữ nguyên tốc độ khoảng 60 - 70km/h, điều chỉnh đèn chiếu sáng xe ô tô về chiếu sáng gần rồi tiếp tục quan sát và đi trên phần đường bên phải để bảo đảm an toàn với xe ngược chiều. Khi hai xe đã giao nhau an toàn, G chuyển sang đèn chiếu sáng xa thì phát hiện phía trước khoảng 10m có người đang đi bộ cùng chiều (ông Y Ngăm T1), cách lề bên phải khoảng 01 đến 1,5 mét; do khoảng cách quá gần, không kịp giảm tốc độ đến mức không nguy hiểm nên G vừa đạp phanh vừa đánh lái về bên trái để tránh nhưng phần đầu bên phải của xe ô tô vẫn va chạm vào ông Y Ngăm T1 và hất văng sang phần đường bên trái làm cho ông Y Ngăm T1 tử vong tại chỗ.
Tại Bản kết luận giám định số 195/KLGĐTT-PY ngày 10/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận nguyên nhân tử vong của ông Y Ngăm T1 là: Do chấn thương vỡ sọ não/chấn thương cột sống cổ/nhiều thương tích khác do tai nạn giao thông.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, thể hiện: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Mặt đường được trải bê tông nhựa bằng phẳng rộng 560cm, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng đút đoạn chia mặt đường thành hai phần đường bằng nhau, mỗi bên rộng 280cm. Cách trung tâm hiện trường về hướng tỉnh Đắk Lắk có ngã 3 giao nhau giữa quốc lộ B và đường liên thôn B, khoảng cách 3500cm và cách trung tâm hiện trường 3340cm có biển báo chỉ dẫn số 8 về hướng tỉnh Lâm Đồng. Điểm va chạm đầu tiên giữa xe ô tô tải BKS 51D-096.07 với người đi bộ chiếu vuông góc xuống mặt đường, vị trí va chạm nằm trên phần đường bên phải theo hướng Lâm Đồng - Đắk Lắk và cách mép đường bên phải là 208cm. Sau va chạm, nạn nhân Y Ngăm T1 nằm úp mặt xuống đường, đầu quay về hướng đi tỉnh Đắk Lắk, cách mép đường chuẩn là 570cm, hai chân tử thi thẳng, quay về hướng ngược lại, cách mép đường chuẩn là 560cm; từ đỉnh đầu đến giữa hai gót chân là 152cm.
Qua khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS 51D-096.07, loại xe Carry, nhãn hiệu Suzuki, sơn màu vàng xanh, thể hiện: Hệ thống đèn chiếu sáng, tín hiệu, còi còn hiệu lực; phần bên phải kính chắn gió phía trước có vết rạn nứt kích thước (72 x 76)cm. Đo từ tâm dấu vết đến viền dưới kính chắn gió phía trước 2cm, đo đến cần quạt nước phía trước bên phải là 23cm; cần gạt nước bên phải bị gập chiều hướng từ trước ra sau so với vị trí bình thường là 3cm, đo từ vị trí gập đến chân cần gạt nước bên phải phía trước là 23cm; nắp Capô nghiêng phía bên phải có vết móp méo biến dạng, kích thước (74 x 60)cm có chiều hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên, trên nắp Capô khu vực móp méo có rải rác vết trầy xước sơn; cán nhựa phía trên và ca lăng phía trước có vết nứt kích thước 9cm, vết nứt nằm ngay tại vị trí dưới lô gô chữ “S” của hãng S1 dán trên ca lăng; ốp nhựa bảo vệ đèn tín hiệu chiếu sáng phía trước bên phải có vết nứt hở, kích thước (17,5 x 0,5)cm, từ vị trí nút đến đèn tín hiệu bên hông phía trước bên phải là 38cm.
Kết quả thực nghiệm điều tra cho thấy tại thời điểm Vũ Hồ G điều khiển xe ôtô BKS: 51D-097.06 bật đèn chiếu gần và cách xe ôtô tải đi ngược chiều đang bật đèn chiếu gần khoảng 35 mét, cách vị trí va chạm khoảng 20 mét và ở vị trí khi Vũ Hồ G đang bật đèn chiếu gần để giao nhau với xe ôtô tải đi ngược chiều cũng đang bật đèn chiếu gần và cách vị trí va chạm khoảng 10 mét (vị trí người đi bộ đang di chuyển phía trước) thì Vũ Hồ G quan sát thấy người đi bộ phía trước nhưng do không chú ý quan sát và không làm chủ tốc độ nên xe ôtô BKS: 51D-097.06 do Vũ Hồ G điều khiển đã va chạm vào người đang đi bộ cùng chiều phía trước.
Tại bản kết luận số 01/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện L kết luận về giá trị thiệt hại của xe ôtô BKS 51D-096.07 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông ngày 22/9/2023, với số tiền là 9.000.000 đồng.
Về vật chúng đã thu giữ và xử lý gồm:
01 xe ô tô BKS 51D-096.07, loại xe Carry, nhãn hiệu Suzuki, sơn màu vàng xanh cùng các giấy tờ liên quan: 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 1260445; 01 (một) giấy chứng nhận điện tử (chuyển đổi) bảo hiểm xe ôtô mã số: 8 938538 735021 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 250258 thuộc Công ty cổ phần T2; Cơ quan Điều tra Công an huyện L đã trao trả cho chủ sở hữu.
01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số [...] mang tên Vũ Hồ G do sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 06/6/2023; Cơ quan điều tra Công an huyện L đã trao trả cho bị cáo Vũ Hồ G.
Về phần trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Hồ G và gia đình đã tự thỏa thuận và bồi thường các khoản chi phí lo mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại Y Ngăm T1 (người đại diện theo pháp luật là anh Y Phiên N với tổng số tiền là 75.000.000 đồng; người đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về phần trách nhiệm dân sự.
Đối với thiệt hại về hư hỏng của chiếc xe ôtô BKS 51D-096.07, giá trị thiệt hại là 9.000.000 đồng. Công ty cổ phần T2 không yêu cầu bị cáo Vũ Hồ G phải bồi thường thiệt hại về tài sản.
Trong quá trình điều tra bị cáo Vũ Hồ G đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm các dấu vết trên phương tiện, biên bản kiểm tra hiện trường, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyên Lắk đã truy tố Vũ Hồ G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Hồ G về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Vũ Hồ G từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 đến 04 năm.
Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận Cơ quan cản sát điều tra đã trao trả: xe ô tô BKS 51D-096.07 và giấy tờ liên quan đến chiếc xe cho công ty cổ phần T2.
Chấp nhận Cơ quan điều tra Công an huyện L. đã trao trả cho bị cáo Vũ Hồ G 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số F.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 591 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận bị cáo Vũ Hồ G đã thỏa thuận và bồi thường các khoản chi phí lo mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại tổng số tiền là 75.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Hồ G đã khai nhận toàn bộ các tình tiết của vụ án như đã khai trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến tranh luận; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát về hình phạt.
Đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mức thấp nhất về hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra bị cáo Vũ Hồ G đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm các dấu vết trên phương tiện, kết luận giám định pháp y tử thi và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án; từ đó có đủ cở sở xác định:
Vào khoảng 19h10' ngày 22/9/2023, trong lúc điều khiển xe ôtô tải BKS: 51D-096.07 tham gia giao thông trên Quốc lộ B theo hướng Lâm Đồng - Đắk Lắk, đến Km39 + 270 thuộc địa phận buôn D, xã Y, huyện L, Vũ Hồ G không chú ý quan sát, làm chủ tốc độ đã để phần đầu bên phải của xe ô tô va chạm vào người của ông Y Ngăm T1 đang đi bộ cùng chiều phía trước làm cho ông Y Ngăm T1 bị hất văng sang phần đường bên trái theo hướng đi và tử vong tại chỗ.
Hành vi nêu trên của Vũ Hồ G đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm ông Y Ngăm T1 tử vong nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
...”
Mặc dù bị cáo đã có giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện bị cáo điều khiển nhưng do cẩu thả khi tham gia giao thông, bị cáo đã không tuân thủ quy định của Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm vào người đi bộ cùng chiều, phía trước làm nạn nhân tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Bị cáo Vũ Hồ G đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo và gia đình đã tự thỏa thuận và bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại ông Y Ngăm T1, với tổng số tiền là 75.000.000 đồng; người đại diện theo pháp luật của người bị hại đã làm đơn “bãi nại” xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương, gia đình nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo như Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[3] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chúng phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại về tính mạng; đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Tòa án cần ghi nhận việc bồi thường giữa các bên.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Hồ G phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Vũ Hồ G 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/06/2024).
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Vũ Hồ G cho Ủy ban nhân dân phường K, Tp., tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra huyện L đã trao trả:
- Chiếc xe ô tô Carry, nhãn hiệu: S1, BKS 51D-096.07 và các giấy tờ liên quan cho Công ty cổ phần T2.
- 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C, số [...] cho bị cáo Vũ Hồ G.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 585, 591 của Bộ luật dân sự:
Công nhận bị cáo Vũ Hồ G đã thỏa thuận và bồi thường các khoản chi phí lo mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại Y Ngăm T1 tổng số tiền là 75.000.000 đồng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ Luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Hưng |
|
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Vũ Hồ Giang phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Hồ Giang 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04/06/2024). Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Vũ Hồ Giang cho Ủy ban nhân dân phường Khánh Xuân, Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
