|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HSPT-CTN Ngày 23 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ; ông Trương Văn Hai
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mộng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 05/2024/TLPT-HS-CTN ngày 23 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo Chau N do có kháng cáo của bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang;
- Bị cáo có kháng cáo:
Chau N, sinh năm: 1990 tại An Giang; nơi cư trú: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau S và bà Néang P; bị cáo có vợ tên là Nèang C, có 03 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Chau N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 9/01/2023 cho đến nay (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo Chau N có ông Nguyễn Thanh T Luật sư Văn phòng L3 – thuộc đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Ấp N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị hại:
- Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm: 1999; nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Châu Nguyễn Nhựt A, sinh năm: 2008; nơi cư trú: ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Nguyễn Thị G, sinh năm: 1982 (đã chết); Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị G.
- Châu Hồng D, sinh năm 1978 (có mặt)
- Châu Nguyễn Xuân M, sinh năm 2005 (có đơn xin vắng mặt)
- Châu Nguyễn Nhựt A, sinh năm 2008
- Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt)
- Nguyễn Thị V, sinh năm 1958 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng nơi cư trú: Tổ E, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của các bị hại Châu Nguyễn Nhựt A1 có ông Châu Hồng D; nơi cư trú: Tổ E, ấp M, xã N, huyện C, tỉnh An Giang.
Bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các bị hại: Nguyễn Thị Cẩm L, Châu Nguyễn Xuân M2, C Nguyễn Nhựt A có ông Lê Hữu T1 thuộc Công ty L4. Địa chỉ: Số 59/3/14, Đinh Bộ L1, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
- Chau Cuốl S1, sinh năm: 1993 ; nơi cư trú: Tổ H, ấp V, xã V, huyện T, An Giang (có mặt)
- Công ty B (B).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hoàng L2 – Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu Quốc T2, sinh năm 1976, chức vụ - Trưởng phòng Bảo hiểm Bảo Việt huyện C, theo giấy ủy quyền ngày 22/9/2023 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang
- Người làm chứng: Nguyễn Thị G1, Chau Phi R (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 6 giờ ngày 01/9/2022, Nguyễn Thị Cẩm L điều khiển xe mô tô biển số: 67L2-216.48 chở theo Nguyễn Thị G và Châu Nguyễn Nhựt A1 chạy trên đường Quốc lộ 91 hướng L- C để khám bệnh cho Nhựt A1. Khi đến khu vực khóm H, thị trấn A, huyện C; C mở đèn tín hiệu đi từ lề phải sang dãy phân cách cố định để qua đường đến phòng khám của bác sĩ D1. Cẩm L điều khiển xe chạy dãy phân cách khoảng 1 mét, cách đầu dãy phân cách khoảng 1,5m thì bị Chau N điều khiển xe ô tô khách biển số 67F-000.80 chạy phía sau cùng chiều với xe mô tô của Cẩm L không chú ý đụng vào phía sau xe C đang điều khiển gây ra tai nạn.
Hậu quả: Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Cẩm L và C1 Nguyễn Nhựt A1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ. Đến ngày 4/9/2022 Nguyễn Thị G tử vong.
Ngày 9/01/2023, Chau N bị khởi tố điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 Giấy phép lái xe hạng E tên Chau Nô
- - 01 xe ô tô khách biển số 67F-000.80
- - 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật số 0685101
- - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 67F-000.80
- - 01 xe mô tô 67L2-216.48. Đã trao trả cho Nguyễn Thị Cẩm L do Nguyễn Thị G1 đại diện nhận.
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 282/22/TT ngày 4/9/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế tỉnh A, kết luận: Nguyễn Thị G, sinh năm: 1982.
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương nham nhở trán phải, sây sát rải rác vùng mặt.
- Bầm tụ máu dưới da vùng trán- đỉnh-thái dương phải
- Nứt sọ vùng trán- thái dương phải dài 7.5cm.
- Máu tụ dưới màng cứng bán cầu não trái.
- Xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu.
- Dập phù não, mất rãnh cuộn não.
2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng, xuất huyết dưới nhện, dập phù não. (Bút lục số 151-155).
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 607/22/TgT ngày 7/11/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y, kết luận: Châu Nguyễn Nhựt A1, sinh năm: 2008
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sây sát dạng mảng để lại sẹo mặt sau khuỷu tay trái, kích thước (1.5x 0.7)cm.
- -Sây sát dạng mảng để lại sẹo mặt sau lưng bàn chân phải, kích thước (1.5x 1.5)cm, lồi, sậm màu.
- Sây sát dạng mảng để lại sẹo mặt sau lưng bàn chân trái, kích thước (06 x 03)cm.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số số 22/ 2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần): 05% (không năm phần trăm).
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 606/22/TgT ngày 7/11/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y, kết luận: Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm: 1999.
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sây sát dạng mảng má phải để lại vết biến đổi sắc da, kích thước (1.5 x1.5) cm +(0.3 x 0.2)cm + (0.1 x 0.1) cm.
- Chấn thương cánh tay trái (sẹo mổ mặt trước cánh tay trái, kích thước (15.5 x 0.3) cm): Gãy 1/3 giữa xương cánh tay trái, đã phẫu thuật kết hợp xương.
- Sẹo mặt lưng đốt 1 ngón II bàn tay phải, kích thước (0.5 x 0.3)cm, sẹo lồi, màu hồng.
- Sây sát dạng mảng để lại sẹo mặt lưng đốt 1 ngón V bàn tay phải, kích thước (0.7 x 0.5)cm.
- Sây sát dạng mảng mặt lưng bàn tay trái để lại bết biến đổi sắc tố da, kích thước (0.1 x 0.1)cm.
- Sây sát dạng mảng mặt lưng đốt 1 ngón III bàn tay trái để lại vết biến đổi sắc tố da, kích thước (0.3 x 0.2)cm.
- Sây sát dạng mảng để lại sẹo mắt cá ngoài chân phải, kích thước (1.5 x 0.8) cm, phẳng, sậm màu.
- Sây sát dạng mảng mặt trước gối trái để lại vết biến đổi sắc da, kích thước (02 x 0.5) cm.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là (áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư số số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần): 23% (hai mươi ba phần trăm).
* Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐ ngày 6/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang, kết luận:
01 xe mô tô biển số: 67L2-216.48, nhãn hiệu: Honda, số loại: Vision, màu sơn: đỏ nâu đen, số máy: JF86E0154616, số khung: RLHJF58KY009019, đã qua sử dụng. Các loại phụ tùng xe bị hư hỏng một phần cần sữa chữa, phục hồi các loại với giá trọn gói (kể cả công thợ) là 13.425.000 đồng.
Quá trình điều tra bị hại thống nhất và không khiếu nại gì về các Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 282/22/TT ngày 4/9/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế tỉnh A; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 607/22/TgT ngày 7/11/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 606/22/TgT ngày 7/11/2022 của Trung tâm pháp y- Sở Y; Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐ ngày 6/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giang.
Trong quá trình điều tra bị cáo Chau N khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Bị hại Nguyễn Thị Cẩm L, Châu Nguyễn Nhựt A1; Người đại diện hợp pháp của các bị hại Nguyễn Thị G, Châu N có ông Châu Hồng D; Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình điều tra có lời khai trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu và thống nhất với nội dung vụ án nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Chau N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Chau N: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 589, 590, 591 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Chau N, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chau Cuốl S1 có trách nhiệm bồi thường cho Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị G và người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà G gồm Châu Nguyễn Xuân M2, Châu Nguyễn Nhựt A1, ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị V có ông Châu Hồng D đại diện nhận số tiền 166.000.000đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu đồng); bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Cẩm L số tiền 62.425.000 đồng (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng); bồi thường cho bị hại C1 Nguyễn Nhựt A1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Trách nhiệm bảo hiểm xe giữa anh Chau Cuốl S1 là chủ xe biển số 67F-000.80 và Công ty B chưa thỏa thuận bồi thường. Công ty B sẽ căn cứ vào bản án của Tòa án khi xét xử và tại phiên Tòa ông Chau Cuốl S1 cũng đồng ý thỏa thuận thương lượng sau với Công ty B. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tính án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/01/2024, bị cáo Chau N kháng cáo xin được hưởng án treo; mức bồi thường cho 03 bị hại rất cao; buộc Công ty B1 chịu trách nhiệm bồi thường; xin miễn giảm tiền án phí.
Ngày 10/01/2024, đại diện bị hại Châu Hồng D; bị hại Nguyễn Thị Cẩm L kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt; xem xét tăng mức bồi thường đối với người phụ thuộc vào kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà G
Tại phiên tòa phúc thẩm.
Bị cáo Chau N khai nhận hành vi phạm tội của mình; bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm xử bị cáo là đúng người, đúng tội; chỉ xin xem xét cho bị cáo hưởng án treo; xem xét lại mức bồi thường thiệt hại; trách nhiệm liên đới của Bảo hiểm và xin miễn giảm án phí,...
Bị hại: Châu Hồng D yêu cầu tăng hình phạt bị cáo; xem xét mức bồi thường cho những người hưởng kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà G.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Chau N về việc xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại, về tăng hình phạt đối với bị cáo Chau N và tăng mức bồi thường thiệt hại. Căn cứ khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Chau N từ 01 năm 06 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Chau N phát biểu và có quan điểm: Nguyên nhân gây tai nạn, do chị Cẩm L không bật đèn nhan; xe chở 3 người trong đó bà G không đội nón bảo hiểm nên có phần lỗi của bị hại; tuy nhiên trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt; hoàn cảnh gia đình khó khăn, hành vi phạm tội của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội; phạm tội lần đầu, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có thể cho bị cáo hưởng án treo, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét, một mức án phù hợp và số tiền hợp lý cho bị cáo.
Bị cáo Chau N nhất trí với bản luận cứ bào chữa của Luật sư và không có bào chữa hoặc tranh luận gì khác.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại phát biểu: bản án sơ thẩm còn nhiều sai sót; Thông báo sửa chữa bổ sung bản án, mà không thể hiện trong quyết định của bản án sẽ khó thi hành; đối với hành vi của bị cáo gây tai nạn gây chết người, bị thương 02 người nên rất nghiêm trọng, cần tăng hình phạt nặng hơn; đối với các yêu cầu tiền mai táng, các khoản chi phí khác theo phong tục tập quán thì không thể có hóa đơn chứng từ, cần xem xét thực tế; đề nghị có xem xét lại bằng lái xe của bị cáo còn thời hạn hay không; bởi nó rất quan trọng, liên quan khung hình phạt; đề nghị Hội đồng xét xử có xem xét cân nhắc đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận Viện kiểm sát cho rằng Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng cần áp dụng phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là không đúng, bởi vì hành vi gây chết người, 02 người bị thương tích, không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên cấp sơ thẩm không áp dụng là đúng pháp luật; Viện kiểm sát giữ y quan điểm đã phát biểu.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Thủ tục kháng cáo của bị cáo Chau N, bị hại, đại diện bị hại hợp lệ; Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm;
[2] Về những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại C có đơn xin vắng mặt, người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ vào Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt theo thủ tục chung;
[3] Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người bị hại, đại diện bị hại, lời khai của người có liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng thời gian 6 giờ sáng ngày 01/9/2022 bị cáo có lái xe trên đường hướng từ L đến C, khi đến khu vực khóm H, thị trấn A thì có sự va chạm xe với chị Nguyễn Thị Cẩm L điều khiển xe mô tô biển số: 67L2-216.48 chở theo Nguyễn Thị G và Châu Nguyễn Nhựt A1 chạy trên đường Quốc lộ 91 hướng L - C để khám bệnh cho Nhựt A1. Bị cáo không thấy xe mô tô của chị Nguyễn Thị Cẩm L đến khi va chạm thì mới phát hiện xe mô tô ngã trên đường. Hậu quả Nguyễn Thị G đã tử vong; Nguyễn Thị Cẩm L bị thương tích 23% và Châu Nguyễn Nhựt A1 bị thương tích 5%.
[4] Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017; cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Chau N về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Bị cáo Chau N có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây thiệt hại làm chết một người, bị thương hai người; gây đau thương mất mát về vật chất, lẫn tinh thần cho gia đình người bị hại; xâm phạm đến an toàn giao thông, gây ảnh hưởng đến trật tự công cộng tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, để răn đe và giáo dục phòng ngừa chung;
[6] Cấp sơ thẩm có xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi vụ án xảy ra đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại, nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo và bị hại yêu cầu tăng hình phạt là không có căn cứ.
[7] Đối với kháng cáo của bị hại, đại diện cho gia đình bị hại về yêu cầu tăng bồi thường thiệt hại cho những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị G thì thấy;
[7.1] Người đại diện hợp pháp bị hại có ông Châu Hồng D yêu cầu tăng số tiền người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị G: Cấp sơ thẩm đã xem xét các khoản chi phí gồm: Tiền chi phí khám bệnh tại Bệnh viện với số tiền là 19.000.000 đồng; tiền xây mộ với số tiền là 25.000.000 đồng; tiền chi phí đám tang với số tiền 22.000.000 đồng; tiền chi phí người chăm sóc với số tiền là 10.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần với số tiền 90.000.000 đồng; buộc bị cáo Chau N, người liên quan có trách nhiệm bồi hoàn cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị G do ông Châu Hồng D đại diện hợp pháp số tiền 166.000.000 đồng là phù hợp pháp luật.
Ngoài ra, còn buộc Bị cáo, người liên quan ông Chau Cuốt S2 có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng cháu C1 Nguyễn Nhựt A1, C1 Nguyễn Xuân M mỗi cháu 900.000đ, cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi là có cơ sở, phù hợp pháp luật.
Trong vụ án, cháu C1 Nguyễn Nhựt A1 còn là bị hại với tỷ lệ tổn thương do bị cáo gây ra là 5%, cấp sơ thẩm xem xét các khoản chi phí khám bệnh tại bệnh viện với số tiền là 5.000.000 đồng; chi phí cho việc bồi dưỡng sức khỏe 5.000.000đ; tổng cộng 2 khoản 10.000.000₫ là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng cho ông Nguyễn Văn M1, bà Nguyễn Thị V là cha mẹ ruột của bà G thì thấy, không có cơ sở chứng minh bà G là lao động chính trong gia đình, tại phiên tòa sơ thẩm bà Nguyễn Thị V trình bày có 3 người con và hiện ông M1, bà V đang sống với người con trai út; nên kinh tế không phụ thuộc vào bà G và bà G không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ (do bị cáo bồi hoàn hết các khoản cho kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà G; trong đó có ông M1, bà V như ở mục [7.1] ).
[7.2] Đối với bị hại Nguyễn Thị Cẩm L: Cấp sơ thẩm xem xét các khoản sau: Chi phí khám bệnh tại bệnh viện với số tiền là 14.000.000 đồng; tiền bồi dưỡng sức khỏe với số tiền là 20.000.000 đồng; tiền tổn thất tinh thần số tiền 18.000.000 đồng (10 lần mức lương cơ sở); tiền chi phí người chăm sóc với số tiền 6.000.000 đồng; tiền bồi thường xe gắn máy 13.425.000 đồng; tiền mất thu nhập thời gian bị mất là 01 tháng lương với số tiền 6.000.000 đồng, do đó, chị Nguyễn Thị Cẩm L được xem xét chấp nhận là 77.425.000đồng. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị Cẩm L đã nhận của bị cáo Chau N đưa khắc phục hậu quả với số tiền 15.000.000 đồng, do đó số tiền còn lại là 62.425.000 đồng (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[8] Về trách nhiệm của Công ty B: Ông Nguyễn Hữu Quốc T2 là đại diện theo ủy quyền của Công ty B, cho biết xe ô tô biển số 67F-000.80 có tham gia bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của Công ty B, do ông Chau Cuốl S1 là chủ xe biển số 67F-000.80 chưa thỏa thuận bồi thường cho bị hại, việc bồi thường trách nhiệm dân sự cụ thể Công ty B sẽ căn cứ vào bản án của Tòa án khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay ông Chau Cuốl S1 cũng đồng ý thỏa thuận thương lượng sau với Công ty B. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trong vụ án này, nếu phát sinh tranh chấp thì được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[9] Đối với kháng cáo của bị cáo Chau N xin miễn giảm án phí, nhưng không cung cấp các giấy tờ thuộc diện được miễn án phí theo Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét.
Hội đồng xét xử cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đối với luận cứ của Luật sư bào chữa cho bị cáo và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là không có căn cứ để xem xét.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[9] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chau N về việc xin giảm án được hưởng án treo.
Không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại Châu Hồng D; bị hại Nguyễn Thị Cẩm L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 01/2024/TB-TA ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[1] Tuyên bố bị cáo Chau N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Chau N: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 589, 590, 591 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Chau N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chau Cuốl S1 có trách nhiệm bồi thường cho Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị G và người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của bà G gồm Châu Nguyễn Xuân M2, Châu N, ông Nguyễn Văn M1 bà Nguyễn Thị V có ông Châu Hồng D đại diện nhận số tiền 166.000.000đồng (một trăm sáu mươi sáu triệu đồng); bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Cẩm L số tiền 62.425.000 đồng (Sáu mươi hai triệu bốn trăm hai mươi lăm ngàn đồng) và bồi thường cho bị hại Châu Nguyễn Nhựt A1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Buộc bị cáo Chau N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 02 cháu C1 Nguyễn Nhựt A1 và cháu C1 Nguyễn Xuân M mỗi cháu 900.000đ/1 tháng cho đến khi hai cháu Nhựt A1 và Xuân M đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng từ ngày 29/12/2022.
Trách nhiệm bảo hiểm xe giữa anh Chau Cuốl S1 là chủ xe biển số 67F-000.80 và Công ty B chưa thỏa thuận bồi thường. Công ty B sẽ căn cứ vào bản án của Tòa án khi xét xử và tại phiên tòa ông Chau Cuốl S1 cũng đồng ý thỏa thuận thương lượng sau với Công ty B. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Chau N phải chịu số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) và Bị cáo Chau N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chau Cuốl S1 phải chịu số tiền 11.921.000 đồng (Mười một triệu chín trăm hai mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Chau N phải chịu 200.000đồng.
[5] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 08/2024/HSPT-CTN ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 08/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bi cáo N - Vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
