|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/HS-ST Ngày: 24/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Huyền;
Bà Vi Thị Ngọc Ánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tuân và ông Mai Duy Định - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST- HS, ngày 30/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 14/3/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đoàn Ngọc K (Tên gọi khác: không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 5 năm 1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Ngọc T (đã chết) và bà Nông Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ là Đỗ Ngọc Hà A, sinh năm 1986 và có 02 con, lớn sinh 2012, nhỏ sinh 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Văn S, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số A, ngách A, phố H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 01 giờ 50 phút ngày 02/8/2023, tại Km143+400, Q, thuộc địa phận thôn T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn qua nguồn tin của quần chúng nhân dân, Phòng Q1 phối hợp với Phòng C Công an tỉnh B kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, BKS 30E-348.07 do Đoàn Ngọc K, sinh năm 1984, trú tại xóm N, xã H, thành phố C điều khiển theo hướng Cao Bằng – Hà Nội, phát hiện trên xe chở theo 03 (ba) hành khách nam giới người Trung Quốc không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh, lưu trú tại Việt Nam gồm: FANG JIA BAO, sinh ngày 03/8/1989, địa chỉ tại Số D, đường N, huyện H, thành phố K, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc; SHI KAI JING, sinh ngày 07/11/1988, địa chỉ tại Số B, tổ C, thôn T, thị trấn D, thành phố K, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc và HU CHANG JIANG, sinh ngày 01/10/2005, địa chỉ tại Số B, tổ I, thôn T, thị trấn N, huyện D, thành phố T, Trung Quốc.
Ngày 04/8/2023, Phòng Q1 Công an tỉnh đã chuyển hồ sơ vụ việc cùng đồ vật, phương tiện liên quan đến Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng cuối tháng 12/2022, Đoàn Ngọc K, có thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, màu bạc, biển kiểm soát 30E – 348.07 của Đào Văn S, sinh năm 1983 trú tại số A, ngách A, phố H, phường Q, quận H, TP Hà Nội để chạy xe taxi công nghệ cho hãng G với giá tiền thoả thuận là 10.500.000đ/1 tháng (mười triệu năm trăm nghìn đồng một tháng). Khoảng 08 giờ ngày 01/8/2023, K đang lái xe taxi ở khu vực đường G thuộc phường P, quận Đ, TP Hà Nội thì có một người đàn ông tên là H1 (K lưu trong danh bạ điện thoại là “A H2”) gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho K nói là “Hôm nay có hàng, em lên thị trấn B đón khách cho anh nhé”. Lúc này K đã biết là H1 tiếp tục gọi K lên Cao Bằng để đón khách là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép và được trả số tiền 15.000.000đ/1 chuyến (mười năm triệu đồng một chuyến) chưa bao gồm chi phí phát sinh nên K đồng ý, vì trước đó K đã chở khách là người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam cho H1 05 (năm) lần.
Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, K điều khiển xe ô tô từ thành phố Hà Nội đến thị trấn B, tỉnh Cao Bằng theo đường Q Hà Nội - Thái Nguyên đến tỉnh Bắc Kạn, sau đó đi theo đường Quốc lộ 3 hướng Bắc Kạn – Cao Bằng đến ngã ba thị trấn N, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì rẽ vào đường Quốc lộ 279 đến ngã ba xã H, huyện B, rồi tiếp tục đi theo đường tỉnh 212 đến huyện N, tỉnh Cao Bằng, sau đó đi theo đường Q đến thị trấn B, huyện B, khi đến nơi là khoảng 18 giờ ngày 01/8/2023. Khiêm nghỉ ngơi, ăn tối tại đây và đợi đón khách, đến khoảng hơn 20 giờ có một số điện thoại lạ gọi cho K nói là khoảng 20 giờ 30 phút đến địa điểm cũ (tại khu vực vườn chuối cách cổng chào thị trấn B khoảng một kilômet) để đón khách, K đồng ý và lái xe đến địa điểm như đã hẹn. Khi đến nơi thì có 01 người đàn ông đứng cạnh một chiếc xe máy đợi sẵn, K vừa dừng xe thì người đàn ông này mở cửa xe của K để 03 (ba) người đàn ông Trung Quốc đi từ bụi chuối gần đó lên xe. Sau khi khách lên xe, người đàn ông bảo K xoá số điện thoại vừa gọi đến đi và yêu cầu K đưa số tiền là 3.000.000đ (ba triệu đồng) tiền dẫn đường (hoa tiêu) từ thị trấn B đến ngã ba P thuộc huyện N, K đồng ý và đưa cho người đàn ông số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Sau đó K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30E - 348.07 chở 03 (ba) người đàn ông Trung Quốc di chuyển từ thị trấn B theo đường quốc lộ 3 để về thành phố Hà Nội. Đến khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 02/8/2023 khi đi đến địa phận phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì lực lượng Công an dừng xe, qua kiểm tra phát hiện và lập biên bản sự việc.
Quá trình điều tra Đoàn Ngọc K thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân, lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSBK-P1 ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Đoàn Ngọc K về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự.
Điều 348 của Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào vì vụ lợi mà tổ chức,... cho người khác ...nhập cảnh... trái phép, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng ... cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc K từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung bị cáo Đoàn Ngọc K từ 10 triệu đến 20 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu bạc biển kiểm soát 30E - 348.07, cũ đã qua sử dụng mà K đã dùng để chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, xác định là tài sản của Đào Văn S, sinh năm 1983, trú tại số A, ngách A, phố H, phường Q, quận H, TP Hà Nội. Qua điều tra xác định S không biết và không liên quan đến hành vi của Đoàn Ngọc K nên sau khi Đào Văn S có đơn xin lại tài sản, ngày 31/10/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ kèm theo cho S theo quy định là hoàn toàn phù hợp vì vậy không xem xét giải quyết.
Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện bị cáo K trao đổi việc thực hiện hành vi phạm tội.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Đoàn Ngọc K: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy, S21 Ultra 5G, màu đen, cũ đã qua sử dụng của Đoàn Ngọc K.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:
Ngày 01/8/2023, sau khi Đoàn Ngọc K nhận được điện thoại của một người đàn ông tên H1 qua ứng dụng Zalo về việc thuê chở người Trung Quốc từ Cao Bằng về Hà Nội với giá tiền 15.000.000đ (mười năm triệu đồng), dù biết rõ khách là những người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam không có hộ chiếu và giấy tờ nhập cảnh, lưu trú tại Việt Nam, nhưng vì lợi nhuận nên K đồng ý. Sau đó K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, màu bạc, biển kiểm soát 30E - 348.07 từ thành phố Hà Nội đến thị trấn B, tỉnh Cao Bằng đón 03 (ba) người đàn ông Trung Quốc nhập cảnh trái phép để chở về khu vực đường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Hồi 01 giờ 50 phút ngày 02/8/2023, khi K điều khiển xe ô tô chở theo 03 (ba) người đàn ông Trung Quốc theo đường quốc lộ 3 đến địa phận thôn T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì lực lượng Công an tỉnh B dừng xe, kiểm tra phát hiện và lập biên bản sự việc.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã phạm vào tội "Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép" quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Việc Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước về xuất nhập cảnh, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bác ruột là Đoàn Ngọc T1 được giấy chứng nhận Cán bộ, chiến sĩ đã được hưởng H3, Huy chương tổng kết kháng chiến; Bị cáo nộp đơn có xác nhận của UBND xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng về việc bị cáo Đoàn Ngọc K tại địa phương chấp hành tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước,hương ước tại thôn tổ, có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chở người nước ngoài không có giấy phép của cơ quan chức năng vào lãnh thổ Việt Nam là vi phạm pháp luật song vì lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện. Xét động cơ, mục đích phạm tội và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy động cơ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nuôi hai con nhỏ đang tuổi ăn học khi thấy được hứa hẹn số tiền công cao bị cáo đã nhất thời phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, đủ khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở cho bị cáo hưởng án treo theo quy định. Vì vậy xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính, bị cáo không thuộc diện gia đình chính sách, không thuộc hộ nghèo, do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu bạc biển kiểm soát 30E - 348.07, cũ đã qua sử dụng mà K đã dùng để chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, xác định là tài sản của Đào Văn S, sinh năm 1983, trú tại số A, ngách A, phố H, phường Q, quận H, TP Hà Nội. Qua điều tra xác định S không biết và không liên quan đến hành vi của Đoàn Ngọc K nên sau khi Đào Văn S có đơn xin lại tài sản, ngày 31/10/2023 Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và giấy tờ kèm theo cho S theo quy định là hoàn toàn phù hợp.
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng là chiếc điện thoại là công cụ, phương tiện bị cáo K liên hệ với A H4 trao đổi việc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước;
- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy, S21 Ultra 5G, màu đen, cũ đã qua sử dụng của Đoàn Ngọc K (Nằm 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “A1”) tuy không sử dụng vào việc phạm tội song cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
[7] Trong vụ án có nội dung:
- Quá trình điều tra Đoàn Ngọc K khai nhận ngoài lần chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép và bị phát hiện vào ngày 02/8/2023, trước đó K còn được chở 05 (năm) lần khác cho người đàn ông tên H4, cụ thể:
- + Lần 1 Khiêm chở 03 (ba) người vào ngày 22/7/2023 và nhận được số tiền 16.500.000đ (mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng).
- + Lần 2 K chở 03 (ba) người vào ngày 23/7/2023 và nhận được số tiền 21.500.000đ (hai mươi mốt triệu, năm trăm nghìn đồng).
- + Lần 3 Khiêm chở 01 (một) người vào ngày 27/7/2023 và nhận được số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
- + Lần 4 Khiêm chở 03 (ba) người vào ngày 29/7/2023 và nhận được số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
- + Lần 5 K chở 03 (ba) người vào ngày 31/7/2023 và nhận được số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng).
Cả 05 (năm) lần trên K đều đón người Trung Quốc tại khu vực vườn chuối cách cổng chào thị trấn B, huyện B, Cao Bằng khoảng một kilômet đưa về đường T, quận H, TP Hà Nội. Tổng cộng K đã được nhận số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) (đã bao gồm cả tiền mua đồ ăn, nước uống, sim, thẻ điện thoại và quần áo cho những người Trung Quốc) từ H4 bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng S1 thuộc ngân hàng Q2 (V) mang tên Đoàn Ngọc K, ngoài ra vào lần chở khách lần thứ 4 và thứ 5 K đã chuyển số tiền 1.000.000đ/1 chuyến (một triệu đồng một chuyến) vào tài khoản tài khoản ngân hàng thương mại cổ phần Á1 (A1) số 30441727 cho H4 để cảm ơn (tiền hoa hồng) vì đã gọi K lên Cao Bằng chở khách. Mục đích K chở người Trung Quốc cho H4 là vì vụ lợi. Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể của những người mà K đã chở và không xác định được những người này nhập cảnh vào Việt Nam có hợp pháp hay không, nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Đoàn Ngọc K về nội dung này.
- Đối với người đàn ông tên H4, quá trình điều tra đã làm rõ: H4 sử dụng số điện thoại 0862.402.xxx; người đàn ông nhận khách tại TP . sử dụng số điện thoại 0908.483.xxx. Ngoài ra H4 còn sử dụng nhiều số tài khoản ngân hàng khác nhau gồm: 050112848018, 050137106814, 237103039, 34649517 tại ngân hàng thương mại cổ phần Á1 (A1) và ngân hàng Thương mại cổ phần S2 (S3) để chuyển tiền công cho Đoàn Ngọc K.
Qua tra cứu tại Tập đoàn C1 và Công ty D khu vực 5 xác định: Số điện thoại 0862.402.xxx đăng ký tên: K Tượng, sinh ngày 27/01/2006, địa chỉ thôn L, xã P, huyện L, Lâm Đồng và số điện thoại 0908.483.xxx đăng ký tên: Võ Hoàng Đ, sinh ngày 18/10/1988, địa chỉ xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Qua xác minh Ngân hàng thương mại cổ phần S2 (S3) và Ngân hàng thương mại cổ phần Á1 (A1) xác định: Số tài khoản 050112848018 là của Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 20/7/1990, địa chỉ tổ A, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Số tài khoản 050137106814 là của Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 13/6/1999, địa chỉ tổ B, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Số tài khoản 30441727 là của Vi Thị T2, sinh ngày 01/6/1979, nơi thường trú thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Số tài khoản 237103039 là của Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 26/6/1997, nơi thường trú tổ I, Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước; Số tài khoản 34649517 là của Phạm Khắc T3, sinh ngày 25/9/1995, nơi thường trú tổ C, Ấp B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Cơ quan điều tra đã tiến hành uỷ thác cho Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh L tiến hành xác minh, triệu tập ghi lời khai đối với K' Tương, sinh năm 2006, trú tại thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là chủ thuê bao số điện thoại 0862.402.xxx. Kết quả: K' Tương khẳng định hiện nay chỉ đăng ký, sử dụng số điện thoại 0815.018.xxx, tuy nhiên trong năm 2022 Tương còn sử dụng một số điện thoại khác nhưng hiện nay không nhớ số là gì vì T4 chỉ sử dụng 2 tháng thì không dùng nữa. Bản thân T4 chưa đủ 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số, từ trước đến nay chưa đi ra khỏi tỉnh Lâm Đồng lần nào. Tương không biết và chưa gặp người có tên Đoàn Ngọc K bao giờ. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với T4.
Cơ quan điều tra đã tiến hành uỷ thác cho Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh B tiến hành xác minh, triệu tập ghi lời khai đối với Nguyễn Hoàng Q, sinh ngày 20/7/1990, trú tại tổ A, khu phố B, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Nguyễn Văn Đ1, sinh ngày 13/6/1999, địa chỉ tổ B, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 26/6/1997, nơi thường trú tổ I, Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Bình Phước và Phạm Khắc T3, sinh ngày 25/9/1995, nơi thường trú tổ C, Ấp B, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước là những người đăng ký, sử dụng các số tài khoản ngân hàng đã chuyển tiền công chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép cho K. Kết quả: Những người có thông tin như trên đều được người khác nhờ chuyển tiền vào tài khoản của Đoàn Ngọc K (4 lần) và Nguyễn Đức L (1 lần) nhưng không nhớ cụ thể là ai, không biết mục đích chuyển tiền là gì. Những người này đều không quen biết ai là Đoàn Ngọc K, Nguyễn Đức L và không biết người nào tên H4 có số sử dụng số điện thoại 0862.402.xxx.
Tiến hành uỷ thác cho Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh Đ tiến hành xác minh, triệu tập ghi lời khai đối với Vi Thị T2, sinh năm 1979, nơi thường trú thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là người đăng ký sử dụng số tài khoản 30441727. Kết quả: Vi Thị T2 không có mặt tại địa phương, đã chuyển đến địa phương khác sinh sống (không biết địa chỉ và thời gian cụ thể). Hiện tại Trưng không có người thân nào sinh sống tại địa phương, do đó không thể tiến hành triệu tập ghi lời khai được, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ sau.
Tiến hành uỷ thác cho Cơ quan ANĐT, Công an tỉnh B tiến hành xác minh, triệu tập ghi lời khai đối với Võ Hoàng Đ, sinh ngày 18/10/1988, địa chỉ xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre là chủ thuê bao số điện thoại 0908.483.xxx. Kết quả: Được không có mặt tại địa phương hiện nay Được đang sinh sống và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh, có địa chỉ tạm trú tại 327/60/1 Đ, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh. Tiến hành uỷ thác cho Cơ quan ANĐT, Công an thành phố H tiến hành xác minh đối với Được. Kết quả: Được không còn tạm trú tại địa chỉ 327/60/1 Đ, phường B, quận B, TP Hồ Chí Minh từ tháng 12/2021, không biết hiện nay Được đang ở đâu. Do đó Cơ quan điều tra không ghi lời khai để làm rõ nội dung vụ án được, tuy nhiên do K khai nhận chỉ được liên lạc với H4 và người đàn ông đón khách tại Hà Nội (sử dụng số điện thoại 0908.483.xxx) qua điện thoại chưa gặp trực tiếp bao giờ, cũng như không biết thông tin gì về những người này. Vì vậy Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý đối với người đàn ông tên H4 khi đủ căn cứ.
- Đối với người đàn ông mở cửa xe để cho 03 (ba) người Trung Quốc lên xe ô tô biển kiểm soát 30E – 348.07 của Đoàn Ngọc K tại khu vực vườn chuối cách cổng chào thị trấn B khoảng một kilômet vào ngày 02/8/2023. Do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để đấu tranh, làm rõ.
- Đối với Đào Văn S, sinh năm 1983, trú tại số A, ngách A, phố H, phường Q, quận H, TP Hà Nội là người cho Đoàn Ngọc K thuê 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios, màu bạc biển kiểm soát 30E – 348.07. Trước Cơ quan điều tra S khai nhận: khoảng cuối tháng 12/2022 giữa S và K có làm hợp đồng cho thuê xe với nội dung cho K thuê chiếc xe trên với giá tiền 10.500.000đ/1 tháng (mười triệu, năm trăm nghìn đồng một tháng), thời gian thuê là hai năm, hình thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, mục đích cho K thuê là để chạy xe taxi công nghệ cho hãng G. Tuy nhiên giữa S và K còn thoả thuận với nhau giá thuê xe không cố định như trong hợp đồng mà để K chở khách cho hãng G, sau đó tính tổng doanh thu, trừ hết chi phí còn lại bao nhiêu sẽ chia đôi mỗi người một nửa, cứ cách khoảng hai tuần thì K lại thanh toán tiền cho S, S không biết và cũng không được K nói về việc sử dụng xe ô tô thuê của S để chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, do đó kết thúc điều tra Cơ quan điều tra không không xử lý đối với Đào Văn S là phù hợp.
- Đối với 03 (ba) đối tượng người Trung Quốc gồm: FANG JIA BAO; SHI KAI JING và HU CHANG JANG là những người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, quá trình làm việc 03 (ba) đối tượng đều khai nhận nhập cảnh trái phép vào Việt Nam qua đường núi từ tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc vào huyện B, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam (không biết địa điểm nhập cảnh cụ thể). Mục đích nhập cảnh trái phép vào Việt Nam là để đi sang nước Thái Lan lao động thuê, do các đối tượng này không mang theo tài sản gì có giá trị nên Công an tỉnh B không tiến hành xử lý hành chính đối với các đối tượng này về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định”. Ngày 08/8/2023 Phòng An ninh đối ngoại, Công an tỉnh B đã tiến hành trao trả ba đối tượng trên về Trung Quốc theo quy định
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố bị cáo Đoàn Ngọc K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc K 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của Bản án trước và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 348 của Bộ luật Hình sự. Phạt tiền bị cáo Đoàn Ngọc K 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
3.Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu POCO X3 Pro, màu xanh đen, cũ đã qua sử dụng;
- - Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy, S21 Ultra 5G, màu đen, cũ đã qua sử dụng của Đoàn Ngọc K (Nằm 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu “A1”)
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đoàn Ngọc K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Ngọc K phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
