|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 08/2024/HS-ST
Ngày: 06/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA TỈNH GIA LAI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Viết T.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông : Nay Phen
- Bà: Trịnh Thị Thanh H
- Thư ký phiên Tòa: Ông Vũ Văn Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa tham gia phiên Tòa:Bà Hoàng Thị Kim Trâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/ QĐXXST – HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn K, sinh năm: 1968 tại tỉnh Hà Nam.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi sinh sống:Thôn B, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa ( học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết);Vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1969; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Ngày 20/9/2012, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 24/9/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Ngày 23/10/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của 02 bản án trên; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/3/2023, bị Công an xã Q, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông xử phạt hành chính, phạt tiền về hành vi không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng. Ngày 20/4/2023 đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tam giam từ ngày 18/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1992;
Địa chỉ: Tổ D, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Tổ D, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
3. Anh Trần Minh T3, sinh năm: 1992;
Địa chỉ: Tổ D, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
4. Anh Phạm Văn P, sinh năm: 1991;
Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Đức T4, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Thôn K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
2. Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
3. Bà Tô Thị T5, sinh năm: 1975;
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 12/2020, Phạm Văn K đến nhà ông Hoàng Văn S hỏi mượn xe mô tô để làm phương tiện đi đến thành phố P, tỉnh Gia Lai giải quyết công việc cá nhân thì anh S đồng ý và giao cho K 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại NVX, BKS 81L1-079.69 cùng giấy đăng ký xe. Sau đó, K sử dụng xe mô tô trên đi thu mua gỗ mít, do không đủ tiền nên K nảy sinh ý định cầm cố xe mô tô của ông S để lấy tiền. Ngày 17/12/2020, K đem xe mô tô BKS 81L1-079.69 của ông S đến tiệm cầm đồ của anh Nguyễn Văn C1 để cầm cố lấy số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn cầm cố từ ngày 17/12/2020 đến ngày 17/01/2021. Sau đó, K dùng số tiền cầm cố xe vào việc thu mua gỗ mít, do việc mua bán gỗ mít bị thua lỗ nên đến hạn K không có khả năng chuộc lại xe mô tô đã cầm cố. Đến ngày, 16/3/2021, anh C1 không thấy K đến nhận lại xe mô tô đã cầm cố nên C1 bán lại xe cho Trần Minh T3 với giá 22.000.000 đồng.
Một thời gian sau, ông S nhiều lần liên hệ với K yêu cầu trả xe mô tô thì K nói dối là đã làm mất xe mô tô và hứa hẹn sẽ trả tiền cho ông S theo giá trị của xe mô tô. Sau đó, ông S nhiều lần yêu cầu trả xe, nên ngày 03/3/2022, K đến nhà ông S làm biên bản thỏa thuận với nội dung K đã làm mất xe mô tô BKS 81L1-079.69 của ông S nên sẽ đền bù cho ông S số tiền 57.000.000 đồng, tương ứng với giá trị của xe và hứa hẹn 01 tháng sau sẽ trả đủ tiền. Tuy nhiên, K không những không thực hiện trả tiền cho ông S theo biên bản thỏa thuận mà bỏ đi khỏi địa phương và ngừng liên lạc với ông S. Đến ngày 27/10/2023, ông S làm đơn tố cáo K chiếm đoạt xe mô tô của ông.
Sau khi Trần Minh T3 mua chiếc xe mô tô BKS 81L1-079.69 thì T3 bán lại cho Phạm Văn P với giá 24.000.000 đồng và nhận sẽ làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho P. T3 đưa số tiền 1.500.000 đồng và giấy tờ xe cho Huỳnh Ngọc T6 để nhờ làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 81L1-079.69 từ tên Hoàng Văn S sang tên người mua Phạm Văn P. Do quen biết với Nguyễn Đình T7 nên T6 nhờ T7 làm thủ tục sang tên xe mô tô BKS 81L1-079.69 và đưa cho T7 200.000 đồng. Sau đó, T7 nhờ Chế Công N1 là Trưởng phòng Tư pháp huyện Phú Thiện, làm Hợp đồng mua bán xe mô tô thì N1 đồng ý. Nghị soạn thảo và tự làm thủ tục chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô BKS 81L1-079.69, sau đó, T7 ký vào mục người mua và người bán trong hợp đồng. T7 làm thủ tục thu hồi đăng ký biển số xe rồi đưa cho T6 01 bộ hồ sơ để làm thủ tục cấp biển số xe mới đứng tên Phạm Văn P.
Tại Kết luận Định giá tài sản số 646/KL-HĐĐGTS ngày 09/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện I, kết luận: 01 xe mô tô BKS 81L1-079.69, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NVX – B634, màu đen, đỏ, mua vào năm 2018, tình trạng đã qua sử dụng trị giá 35.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 09/CT – VKS_ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai truy tố Phạm Văn K về tội: “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/01/2024.
Về dân sự: Bị cáo K cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho ông Hoàng Văn S tổng cộng số tiền là 40.000.000 đồng. Ông S đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với Trần Minh T3 và Phạm Văn P, hai bên tự thỏa thuận T3 đã trả cho P số tiền 21.000.000đồng, P không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Áp dụng các Điều 122 và 131 của Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Phạm Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1: Bị cáo Phạm Văn K phải có nghĩa vụ trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 số tiền 10.000.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 và Trần Minh T3: Nguyễn Văn C1 phải có nghĩa vụ trả cho Trần Minh T3 số tiền 10.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho ông Hoàng Văn S 01 (một) xe mô tô BKS 81L1-079.69, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NVX, số máy G3J7E030346, số khung RLCSG4540HY009343, màu sơn đen, đỏ; 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 8101406, cấp ngày 31/5/2021, đứng tên Phạm Văn P. (Ông Hoàng Văn S có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô theo quy định).
Trả lại cho Phạm Văn K 01 (một) điện thoại di động Galaxy A10, số máy SM-A105G/DS, số sêri R58M712CW6M, màu nâu, gắn thẻ sim số 0366461065, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều, khoản, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đồng ý bồi thường cho anh Nguyễn Văn C1 số tiền 10.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của người bị hại: Đã nhận số tiền bồi thường là 40.000.000đồng, Xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện, thỏa thuận giữa bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng tháng 12/2020, tại thôn K, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai, Phạm Văn K đã mượn 01 xe mô tô BKS 81L1-079.69 của ông Hoàng Văn S để làm phương tiện đi lại, sau đó K mang xe mô tô của ông S đi cầm cố lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân dẫn đến không có khả năng trả lại xe cho ông S, K nói dối là đã làm mất xe rồi bỏ đi khỏi địa phương. trị giá tài sản: 35.000.000 đồng. Do vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Văn K phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an ở địa phương gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo đã bị xét xử và đi cải tạo, nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, nay tiếp tục phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hành vi của bị cáo đã gây ra.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích, lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Chế Công N1 đã có hành vi có dấu hiệu giả mạo chức vụ, vị trí công tác và cùng với Nguyễn Đình T7 thực hiện hành vi có dấu hiệu làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức. Do hành vi trên xảy ra trên địa bàn huyện P, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện I đã thông tin vụ việc có dấu hiệu tội phạm chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Gia Lai để giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Về những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tội danh, điều, khoản áp dụng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét thấy phù hợp với kết quả Nghị án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về ý kiến của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Phạm Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1, bị cáo Phạm Văn K phải có nghĩa vụ trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 số tiền 10.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 và Trần Minh T3, Nguyễn Văn C1 phải có nghĩa vụ trả cho Trần Minh T3 số tiền 10.000.000 đồng.
[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện I, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện IaPa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6 ] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Văn K 01 (Một) năm 03 ( Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/01/2024.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho ông Hoàng Văn S 01 (một) xe mô tô BKS 81L1-079.69, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NVX, số máy G3J7E030346, số khung RLCSG4540HY009343, màu sơn đen, đỏ; 01(một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 8101406, cấp ngày 31/5/2021, đứng tên Phạm Văn P. (Ông Hoàng Văn S có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô theo quy định).
Trả lại cho Phạm Văn K 01 (một) điện thoại di động Galaxy A10, số máy SM-A105G/DS, số sêri R58M712CW6M, màu nâu, gắn thẻ sim số 0366461065, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024 giữa công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Pa).
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 122 và 131 của Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Phạm Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1: Bị cáo Phạm Văn K phải có nghĩa vụ trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 và Trần Minh T3: Nguyễn Văn C1 phải có nghĩa vụ trả cho Trần Minh T3 số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C1 phải chịu 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2024). Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Viết Thịnh |
Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA TỈNH GIA LAI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 08/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA PA TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Kh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
