Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ QUẢNG TRỊ

TỈNH QUẢNG TRỊ


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 08/2024/HS-ST

Ngày: 08/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Huyền Thương và bà Nguyễn Thị Hoa.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Phú - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn T; sinh ngày 09 tháng 02 năm 1974, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố D, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Giáo viên. Là Đảng viên Đ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Y, sinh năm 1920 (Đã chết) và bà Văn Thị T1, sinh năm 1935; vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1975 và có 4 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2009.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị can bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 09/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  2. Văn Thị Mỹ T2; sinh ngày 20 tháng 11 năm 1983, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn M, sinh năm 1955 (Đã chết) và bà Trần Thị M1, sinh năm 1959; chồng Phạm Uy D, sinh năm 1979 (Đã ly hôn năm 2012) và có 2 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2014.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 09/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  3. Nguyễn Thị T3; sinh ngày 14 tháng 5 năm 1982, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim T4, sinh năm 1930 (Được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng nhất và Kỷ niệm chương Chiến sĩ cách mạng bị bắt tù đày) và bà Đặng Thị C, sinh năm 1950; chồng Đặng Bá H, sinh năm 1978 và có 2 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 09/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  4. Lê Thị Mộng L; sinh ngày 24 tháng 12 năm 1980, Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D1, sinh năm 1959 và bà Phan Thị Thu H1, sinh năm 1960; chồng Nguyễn Công S, sinh năm 1976; có 1 con, sinh năm 2014.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Quá trình nhân thân: Ngày 07/12/2019, bị can bị Công an P, thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) về hành vi đánh bạc. Đã chấp hành xong hình phạt vào năm 2019.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/01/2024 đến ngày 09/01/2024 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 06/01/2024, sau khi uống cà phê tại quán Cafe “NiNa” ở đường H, thị xã Q thì các bị cáo Nguyễn Thị T3, Văn Thị Mỹ T2, Lê Thị Mộng L cùng nhau thống nhất vào nhà bị cáo Nguyễn T, rủ bị cáo T đánh bài “phỏm” ăn thua bằng tiền và được bị cáo T đồng ý. Lúc này bị cáo L cầm theo 02 bộ bài tú lơ khơ (do bị cáo L mua từ trước), cả nhóm thống nhất lên gác lững, bị cáo T lấy một cái chăn trải lên bộ bàn ghế nhựa đã kê sẵn để đánh bạc.

Cách thức đánh bài “phỏm” như sau: Các bị cáo sử dụng 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, trong đó, 01 bộ để chia bài và 01 bộ để bắt lá bài “cá”. Mỗi ván bài có 04 người chơi. Trước khi bắt đầu chia bài, một người bốc 01 lá bài bất kỳ ở một bộ bài, lật công khai cho mọi người cùng xem gọi là lá bài “cá” (ván đầu do một người bất kỳ bốc, từ ván thứ hai do người về cuối của ván trước bốc). Tiếp đó, dùng bộ bài còn lại chia cho mỗi người chơi 09 lá bài, riêng người chia bài ở ván đầu tiên hoặc người thắng ván trước được chia 10 lá, những lá còn lại được úp ở giữa gọi là “nọc”. Sau khi bài được chia xong, người có 10 lá bài đánh xuống 01 lá bài và người ngồi bên tay phải người này có quyền lựa chọn ăn lá bài đánh xuống đó để ghép với các lá bài trên tay tạo thành “phỏm” (gọi là “ăn gà) hoặc bắt 01 lá bài ở “nọc”, sau đó phải đánh xuống 01 lá bài. Những người tiếp theo lần lượt đánh theo vòng như quy tắc trên đến vòng cuối cùng thì bắt đầu hạ bài theo thứ tự lượt đánh, tính điểm thắng thua của ván bài.

Cách quy ước “phỏm”, tính “ù”, tính điểm thắng, thua, ăn “gà”, ăn bài “cá” như sau:

- “Phỏm” gồm có 03 lá bài đồng chất liên tiếp nhau hoặc 03 lá bài cùng số hoặc 04 lá bài cùng số.

- “Ù” nghĩa là nếu 09 lá bài trên tay tạo thành các “phỏm”; nếu 10 lá bài trên tay xếp đủ thành các “phỏm” thì gọi là “ù tròn”. Tại bất kỳ thời điểm nào nếu có người “ù”, “ù tròn” thì ván bài kết thúc.

- Người chơi sau khi hạ hết các “phỏm” sẽ cộng điểm các lá bài còn lại trên tay tương ứng theo số của lá bài (quy ước: A = 1 điểm; K = 13 điểm; Q = 12 điểm; J = 11 điểm). Theo thứ tự điểm từ thấp đến cao, người ở vị trí số một sẽ thắng ván bài đó với số tiền 120.000 đồng (gồm: Người ở vị trí thứ hai thua 20.000 đồng; người ở vị thí thứ ba thua 40.000 đồng; người ở vị thí thứ tư thua 60.000 đồng). Nếu người nào không có “phỏm” thì gọi là “cháy” và bị thua 80.000 đồng cho người ở vị trí số một. Nếu người nào “ù” thì thắng 300.000 đồng (03 người còn lại thua mỗi người 100.000 đồng); nếu người nào “ù tròn” thì thắng 600.000 đồng (03 người chơi còn lại thua mỗi người 200.000 đồng).

- Ăn bài “cá”: Nếu người chơi không có lá bài nào giống lá bài “cá” thì thua 80.000 đồng; người có hai hoặc ba lá bài giống lá bài “cá” thì thắng 80.000 đồng/một lá bài tính từ lá bài thứ hai.

- Ăn “gà”: Trong một ván bài, người nào bị ăn “gà” thứ nhất thì thua 20.000 đồng, bị “ăn” gà thứ hai thì thua 40.000 đồng, bị ăn “gà” thứ ba (gà chốt) thì bị thua 80.000 đồng. Nếu người chơi để bị ăn 03 “gà” thì ngoài việc thua 140.000 đồng tiền bị ăn “gà” thì còn bị thua thêm tiền “đền” 300.000 đồng.

Theo quy ước trên thì trong mỗi ván chơi người thua thấp nhất là 20.000 đồng và thua nhiều nhất là 520.000 đồng.

Các bị cáo T, T3, T2, L cùng nhau đánh bạc đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Tổ công tác của Công an thị xã Q bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc là 5.360.00.000 đồng (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng), gồm: Tại vị trí của bị cáo Nguyễn T là 100.000 đồng và tiền bỏ trong túi quần sử dụng để đánh bạc là 1.550.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị T3 là 1.970.000 đồng, bị cáo Văn Thị Mỹ T2 là 1.140.000 đồng, bị cáo Lê Thị Mộng L là 600.000 đồng.

Qua điều tra, số tiền từng bị cáo sử dụng vào việc đánh “phỏm” và được thắng, thua như sau: Bị cáo Nguyễn T sử dụng 1.950.000 đồng, thua 300.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị T3 sử dụng 1.030.000 đồng, thắng 940.000 đồng; bị cáo Văn Thị Mỹ T2 sử dụng 1.880.000 đồng, thua 740.000 đồng; bị cáo Lê Thị Mộng L sử dụng 500.000 đồng, thắng 100.000 đồng.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đã thu giữ các vật chứng của vụ án gồm: Tiền Việt Nam: 5.360.000 đồng; 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chăn vải màu xanh đen, kích thước (2,3 x 2,1)m; 01 (một) bàn nhựa màu nâu có kích thước (75x55x52)cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu vàng cam có cùng kích thước (67x53x50)cm. Các vật chứng này đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị và tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q.

Đối với một số tài sản các bị cáo đã tự nguyện giao nộp khi bị bắt quả tang để phục vụ công tác điều tra, cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho bị cáo và chủ sở hữu như sau:

Thu giữ và trả lại cho bị cáo Nguyễn T, gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 8 Plus, mặt sau màu trắng, số IMEI: 354832099912097, điện thoại dã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Thu giữ và trả lại cho bị cáo Văn Thị Mỹ T2, gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số IMEI: 355018179932283, số IMEI 2: 355018179950434, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Corolla Cross, màu trắng, biểm kiểm soát 74A-221.16 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Thu giữ và trả lại cho bị cáo Lê Thị Mộng L, gồm: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số IMEI: 355018179932283, số IMEI 2: 355018179950434, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu đỏ, biển kiểm soát 74F1-299.17 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Thu giữ và trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị T3: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số IMEI: 356719114864403, số IMEI 2: 356719112160044, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 xe mô tô biển kiểm soát 74F7-6287, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-TXQT ngày 25 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố các bị cáo: N, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51; bị cáo Nguyễn T, bị cáo Nguyễn Thị T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn T, bị cáo Văn Thị Mỹ T2, bị cáo Lê Thị Mộng L mỗi bị cáo từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; bị cáo Nguyễn Thị T3 từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Tiền Ngân hàng N: 5.360.000 đồng; tịch thu, tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chăn vải màu xanh đen, kích thước (2,3 x 2,1)m; trả lại cho bị cáo Nguyễn T: 01 (một) bàn nhựa màu nâu có kích thước (75x55x52)cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu vàng cam có cùng kích thước (67x53x50)cm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh: Vào hồi 11 giờ 25 phút ngày 06/01/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn T thuộc Khu phố D, Phường C, thị xã Q, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Q, tỉnh Quảng Trị bắt quả tang các bị cáo: N, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L đang đánh bạc bằng hình thức đánh bài "phỏm" ăn tiền. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 5.360.00.000 đồng (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng). Trong đó: Bị cáo Nguyễn T sử dụng 1.950.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thị T3 sử dụng 1.030.000 đồng, bị cáo Văn Thị Mỹ T2 sử dụng 1.880.000 đồng, bị cáo Lê Thị Mộng L sử dụng 500.000 đồng.

Quá trình tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ thu giữ được trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để khẳng định hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

[3] Các bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật đi vào con đường phạm tội. Đánh bạc là một trong những tệ nạn xã hội đang gây tác hại nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội, xâm hại đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh tại địa phương. Hiện nay nhà nước nghiêm cấm việc đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức nên cần xử phạt nghiêm nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, các bị cáo đều khai báo rõ ràng, trung thực. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3 đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, riêng bị cáo L chỉ có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị T3 có bố là người có công cách mạng, bị cáo Nguyễn T có nhiều thành tích khen thưởng trong quá trình công tác nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo L có nhân thân xấu: Ngày 07/12/2019, bị cáo bị Công an P, thị xã Q xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong hình phạt vào năm 2019). Các bị cáo T, T2, T3 đều có nhân thân tốt.

[6] Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L đều là người trực tiếp đánh bạc, các bị cáo không xác định được ai là người khởi xướng, rủ rê việc đánh bạc nên các bị cáo đều có vai trò như nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khi lượng hình cần căn cứ vào số tiền của từng bị cáo dùng vào việc đánh bạc, người chuẩn bị công cụ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo phạm tội nhằm mục đích tư lợi thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ răn đe và giáo dục các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 5.360.000 đồng (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công vào ngân sách Nhà nước (căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chăn vải màu xanh đen, kích thước (2,3 x 2,1)m là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy (căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Đối với 01 (một) bàn nhựa màu nâu có kích thước (75x55x52)cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu vàng cam có cùng kích thước (67x53x50)cm đây là bộ bàn ghế đã có sẵn từ trước nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn T (căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Quá trình điều tra đã xác định được một số đồ vật, tài sản thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Tại phiên tòa các bị cáo không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn T, bị cáo Nguyễn Thị T3 áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn T, bị cáo Văn Thị Mỹ T2, bị cáo Lê Thị Mộng L mỗi bị cáo 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng); bị cáo Nguyễn Thị T3 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Tiền Ngân hàng N: 5.360.000 đồng (Năm triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).

    Tịch thu, tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng; 01 chăn vải màu xanh đen, kích thước (2,3 x 2,1)m.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn T: 01 (một) bàn nhựa màu nâu có kích thước (75x55x52)cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu vàng cam có cùng kích thước (67x53x50)cm.

    Tất cả vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị và Công an thị xã Q).

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn T, Văn Thị Mỹ T2, Nguyễn Thị T3, Lê Thị Mộng L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Trị;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị;
  • - Công an thị xã Quảng Trị (3 bản);
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp Quảng Trị;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Lê Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 08/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thạnh, Văn Thị Mỹ Trang, Nguyễn Thị Tiến, Lê Thị Mộng Loan phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger