Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/01/2025

V/v: Ly hôn giữa chị Quỳnh và

anh Tuấn Anh.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lự.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thụ, ông Nguyễn Hữu Thái.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “ Ly hôn, con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXX- ST ngày 30 tháng 12 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QÐST - HNGĐ ngày 17/01/2025 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Như Q, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ: SN D, TDP B, TT Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Trương Tuấn A, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: TDP S, TT P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 11/11/2024 và trong các lời khai chị Nguyễn Như Q là nguyên đơn trình bày: Chị và anh Trương Tuấn A kết hôn năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, nay là thị trấn P, trước khi kết hôn hai bên có thời gian tự do tìm hiểu, kết hôn xuất phát từ sự tự nguyện của hai bên, sau khi kết hôn vợ chồng anh chị và chung sống cùng bố mẹ tại phố S. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 5 năm 2023 vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống dẫn tới việc thường xuyên cãi vã to tiếng với nhau. Đến tháng 5 năm 2024 anh chị sống ly thân, chị về nhà mẹ đẻ sống tại phố B, thị trấn Đ chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và kinh tế từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Tuấn A.

Về con chung: Anh chị có một con chung là Trương Tuấn T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2023 hiện nay Cháu tú đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu Trương Tuấn T cho chị nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chị đề nghị anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung là 3 triệu đồng trên một tháng. Hiện nay, chị đang làm nghề tự do, thu nhập khoảng 10 đến 12 triệu đồng trên tháng đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Q đề nghị anh Tuấn A góp cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng.

Bị đơn Anh Trương Tuấn A trình bày: Anh và chị Q kết hôn năm 2021, có đăng ký kết hôn tại ban nhân dân xã P nay là thị trấn P, trước khi kết hôn anh và chị Q có được tự nguyện tìm hiểu, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, anh, chị có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, sau khi kết hôn, chị Q về nhà anh làm dâu và sống cùng anh và mẹ anh tại số nhà C Phố S, TT P thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc, giữa năm 2024 anh và chị Q phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống dẫn tới cãi vã lẫn nhau.

Hiện nay, chị Q đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Hai bên gia đình có biết chuyện và khuyên nhủ nhưng chị Q không nghe. Nay chị Q đề nghị ly hôn với anh. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh chị có một con chung Trương Tuấn T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2023. Cháu T ngoan và phát triển khỏe mạnh bình thường. Hiện nay, cháu T đang ở cùng chị Q để thuận tiện cho việc đi học mầm non. Cuối tuần, ngày nghỉ anh vẫn đón cháu T về nhà anh. Chị Q có nguyện vọng được nuôi cháu tú anh không đồng ý. Anh cũng mong muốn được nuôi cháu T. Anh đang làm công tác Đoàn của tổ dân phố và kinh doanh nên có đủ khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng, nếu được toà án giao cháu T cho anh nuôi, anh không đề nghị chị Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung không yêu cầu toà án giải quyết.

Tại phiên toà anh Tuấn A vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 27 tháng 12 năm 2024, ông Đỗ Đức K, tổ trưởng tổ dân phố S, thị trấn P và ông Nguyễn Văn B, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã P cung cấp thông tin: Chị Nguyễn Như Q và anh Trương Tuấn A kết hôn năm 2021 và có đăng ký kết hôn tại ủy ban xã P, nay là thị trấn P, chị Q và anh Tuấn A, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán Địa Phương, sau khi kết hôn chị Q về nhà anh Tuấn A, sinh sống ở số nhà C phố S, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, vấn đề mâu thuẫn vợ chồng chị Q và anh Tuấn A, địa phương không nắm được vì chị Q hay anh T1 anh không thông báo cho chính quyền địa phương và cũng thông qua hòa giải tại địa phương, chị Q không còn sinh sống tại nhà anh Tuấn A ở số nhà C phố S đã chuyển về nhà mẹ đẻ chị Q ở địa chỉ Thị trấn Đ Anh Tuấn A1 hiện đang là đảng viên, bí thư đoàn thanh niên tổ dân phố S, thị trấn P, anh Tuấn A1 chấp hành đầy đủ các công tác của địa phương. Việc ly hôn tranh chấp nuôi con chung giữa anh Tuấn Al và chị Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa chấp hành quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Trương Tuấn A.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Như Q nuôi con Trương Tuấn T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2023. Buộc anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con 3.000.000đ/tháng kể từ tháng 2/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Tuấn A được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, HĐXX nhận thấy:

  1. Về tố tụng: Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Như Q và các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức nội dung đơn khởi kiện. Anh Tuấn A1 có hộ khẩu thường trú tại TT P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Lục Nam thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về phía anh Tuấn Al tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Tuấn A1 vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 BLTTDS, HĐXX đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về nội dung: Chị Nguyễn Như Q kết hôn với anh Trương Tuấn A năm 2021 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Cưới xong anh chị về chung sống với nhau ngay và hòa thuận được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, hay xảy ra cãi vã. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không xây dựng hạnh phúc được với nhau, chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tuấn A, ý kiến của anh Tuấn A không nhất trí ly hôn nhưng anh Tuấn A cũng không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng. HĐXX thấy mục đích hôn nhân không đạt được không thể hàn gắn nên cần cho chị Q được ly hôn anh Tuấn A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung Trương Tuấn T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2023. Nay ly hôn phía chị Q đề nghị được nuôi con. Phía anh Tuấn A cũng đề nghị được nuôi con. Tuy nhiên cháu Trương Tuấn T vẫn chưa đủ 36 tháng tuổi. HĐXX xét thấy cần giao cho chị Q nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T là phù hợp với quy định của pháp luật được quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Sau khi ly hôn anh Tuấn A được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Trong các lời khai của chị Q đề nghị anh Tuấn A cấp dưỡng 3.000.000đ/tháng nhưng tại phiên tòa chị Q đề nghị anh Tuấn A góp cấp 2.000.000đ/ tháng. HĐXX thấy anh Tuấn A không có thu nhập ổn định và chị Q đề nghị 2.000.000đ/tháng nên cần chấp nhận buộc anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 2/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

  4. Về tài sản, công nợ: Chị Q anh Tuấn A không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Q phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm, anh Tuấn A phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26, Điều 27 Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về xử lý án phí, lệ phí, tuyên xử:

  1. Cho chị Nguyễn Như Q được ly hôn anh Trương Tuấn A.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Như Q nuôi con Trương Tuấn T, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2023. Buộc anh Tuấn A cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 2/2025 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Tuấn A được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Như Q phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam ngày 13/11/2024 theo biên lai thu số 0004399. Anh Tuấn A1 phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND TT Phương Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger