Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 21 - 11 - 2024.

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Công Đoàn.

- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Trưởng và ông Nguyễn Mạnh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 09/2024/TLPT - HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXX-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024.

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Sơn Đ, sinh năm 1944; nơi thường trú: Tổ A, Cụm D, phường H, quận T, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số G Tổ N, phường H, quận T, thành phố Hà Nội vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn bà Trương Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/4/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Nguyễn Sơn Đ trình bày: Ông kết hôn với bà Trương Thị T trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam ngày 11/10/2016. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Ông bà chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bà không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, cách sống, cách sinh hoạt thường ngày. Hơn nữa, do chênh lệch tuổi tác và không có con chung nên ông bà sống không có sự đồng cảm, sẻ chia, sống không có hạnh phúc. Ông kết hôn với bà T với mong muốn cùng nhau chăm sóc lúc tuổi già. Tuy nhiên năm nào bà T cũng tự ý bỏ nhà đi không có lý do, sau đó lại về nhà sinh sống cùng ông được thời gian ngắn. Bà T không yêu thương ông và bỏ bê gia đình. Ông đã nhẫn nhịn không muốn hôn nhân đổ vỡ. Tuy nhiên đến năm 2023, ông bà sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông bà không có con chung, nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về con riêng: Bà T không có con riêng còn ông có 05 người con riêng gồm: Anh Nguyễn Tấn H, sinh năm 1961 (đã chết năm 2014); chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; chị Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1980; chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1982; anh Nguyễn Việt S1, sinh năm 1984. Hiện nay 04 con riêng của ông đã lập gia đình, sống riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Ông bà không nợ ai và không ai nợ ông bà nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công sức đóng góp: Ông xác định trong quá trình chung sống, bà T không có công sức đóng góp gì. Bởi vì, nhà và đất đai của ông ở thôn T, xã T là do bố mẹ đẻ của ông để lại, ông tạo dựng từ khi chưa chung sống với bà T, bà T mới kết hôn với ông năm 2016. Ông là Đại tá quân đội về hưu, không có ruộng; bà T không làm nghề phụ, không làm ruộng. Năm đầu tiên chung sống, thì ông giao cho bà T quản lý kinh tế trong nhà vì ông có lương hưu. Sau đó, ông phát hiện ra bà T sống không thật, không chăm lo cho cuộc sống vợ chồng, chỉ thu vén tiền cho cá nhân bà. Tiền lương của ông lúc đó là 11 triệu đồng/tháng, bà T quản lý hết nhưng bà không dùng số tiền đó để chi tiêu cho cuộc sống vợ chồng, không lo công việc trong nhà mà quản lý riêng. Toàn bộ kinh tế và mọi công việc trong gia đình là do ông lo toan; ông còn đưa tiền, vàng cho bà T. Tuy nhiên, ông không yêu cầu bà T phải trả cho ông tiền và vàng. Vì vậy, ông không đồng ý với yêu cầu về công sức đóng góp của bà T.

Về trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Bà T không được hưởng trợ cấp xã hội, không có nghề phụ; còn ông thì có lương hưu. Tuy nhiên, do ông tuổi đã cao, sức khỏe đã yếu hơn trước, lại bị nhiều bệnh nên ông sẽ hỗ trợ cho bà T 20 triệu đồng nếu bà đồng ý ly hôn.

Tại các bản tự khai ngày 09/4/2024 và ngày 02/5/2024 và trong quá trình xét xử, bị đơn bà Trương Thị T trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Sơn Đ trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam ngày 11/10/2016. Trước khi kết hôn, ông bà chung sống cùng nhau từ ngày 21/6/2016. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (quê của ông Đ). Ông bà chung sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Đ tính tình gia trưởng, keo kiệt, không quan tâm, yêu thương chăm sóc bà. Hơn nữa, các con riêng của ông Đ không ủng hộ cuộc hôn nhân của ông bà, thường xuyên gây áp lực, chửi bới, xúc phạm bà, khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, bà đã nhẫn nhịn vì tuổi cao, không muốn hôn nhân đổ vỡ nhưng ông Đ vẫn đối xử lạnh nhạt với bà. Hàng năm, cứ đến gần tết Nguyên đán, ông Đ đuổi bà về nhà mẹ đẻ ở, còn ông Đ ở nhà ăn Tết với các con cháu, khiến bà rất tủi thân. Ông bà sống ly thân từ ngày 22/12/2023 (âm lịch) đến nay. Trong quá trình chung sống, ông Đ chỉ coi bà như một người giúp việc. Mặc dù ông Đ đối xử với bà không tốt, nhưng bà xác định tình cảm của bà với ông Đ vẫn còn nên không nhất trí ly hôn.

Về con chung: Ông bà không có con chung; về con riêng: Ông Đ có 05 người con riêng với người vợ cũ, 01 người con đã chết, các con riêng của ông Đ đã lập gia đình và sống riêng; bản thân bà không có con riêng, hiện nay bà không mang thai, nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông bà không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Ông bà không nợ ai và không ai nợ ông bà nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công sức đóng góp: Bà xác định trong quá trình chung sống cùng ông Đ, bà có công sức cùng ông Đ chăm lo thu vén, xây dựng, sửa sang nâng cấp các công trình trên đất của ông Đ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Bà đã cùng ông Đ vượt ao (khoảng 300m²), làm vườn, trồng cây chuối, bưởi, mít, xoài, vài; 03 lần xây đi, xây lại tường bao; 03 lần nâng cấp sân; khoảng 3 - 4 lần dóc tường nhà ra trát lại, 03 lần lăn sơn nhà; tôn tạo nghĩa trang, mộ phần. Bà chỉ bỏ công sức, thức khuya dậy sớm, lo nước nôi cho thợ còn tiền bà không có đóng góp gì với ông Đ. Ngoài ra, bà còn chăn nuôi gà, vịt, ngan để con cháu ông Đ về làm thịt và mang đi Hà Nội. Trong 02 năm, bà còn trông nom nhà cửa cho con gái thứ hai của ông Đ là bà X ở thôn T, xã T. Tại thời điểm chung sống cùng ông Đ, bà không có lương hưu, không được hưởng trợ cấp xã hội, bà làm nông nghiệp. Ông Đ là Đại tá quân đội về hưu, lương cũng khá nhưng ông chỉ đưa tiền mua thức ăn hàng ngày, chứ không đưa tiền cho bà sắm sửa, lo toan cho gia đình. Ông Đ là người chi tiền ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của vợ chồng. Nay bà yêu cầu ông Đ thanh toán cho bà số tiền 768.000.000 đồng, tương đương với 08 năm = 96 tháng x 08 triệu đồng/tháng.

Về trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Trước đây bà yêu cầu ông Đ trợ cấp cho bà 20.000.000 đồng, nhưng nay do bà vừa mổ thận, vừa chữa bệnh tim nên bà yêu cầu ông Đ trợ cấp cho bà số tiền là 100.000.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/5/2024, người làm chứng bà Nguyễn Thị X và ông Nguyễn Ngọc L trình bày: Bà X là con riêng của ông Đ, ông L là chồng bà X. Ông Đ và bà T kết hôn vào tháng 10 năm 2016, sau đó chung sống tại thôn T, xã T, huyện T được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bà T không hết lòng yêu thương, chăm sóc ông Đ mà chỉ toan tính bòn rút tiền và tài sản của ông Đ. Bà T chưa bao giờ có mặt ở nhà trong các dịp lễ, Tết, giỗ chạp. Định kỳ hàng tháng, ông Đ phải đi khám bệnh và điều trị tại Bệnh viện 108 ở Hà Nội, việc chăm sóc, chi trả tiền thuốc là do chị em bà thực hiện. Từ tháng 6 năm 2016, bà X lên Hà Nội chăm cháu cho con gái lớn, ông L và cháu N (con gái thứ hai) thường xuyên có mặt ở nhà, nên không có việc gia đình bà X nhờ hay thuê bà T trông nom, dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc vật nuôi. Vợ chồng bà X, ông L xác định bà T không có công sức đóng góp gì trong quá trình chung sống cùng ông Đ.

* Xác minh tại UBND xã T xác định: Ông Nguyễn Sơn Đ kết hôn với bà Trương Thị T trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam ngày 11/10/2016. Bà T1 là công dân xã T, trước khi kết hôn với ông Đ và hiện nay bà T làm ruộng, bà T không được hưởng trợ cấp xã hội vì không thuộc đối tượng được trợ cấp. Ông Đ với bà T kết hôn với mong muôn cùng nhau chăm sóc, cùng nhau sống vui, khỏe lúc tuổi già. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (quê của ông Đ). Vì ông bà không sống ở địa phương, nên địa phương không nắm rõ được mâu thuẫn của vợ chồng ông bà. Tuy nhiên, qua hòa giải ngày 02/4/2024, sau khi nghe ông Đ và bà T trình bày, địa phương nắm được nguyên nhân mâu thuẫn là do bả T không hết lòng chăm sóc ông Đ, hay tự ý về nhà mẹ đẻ ở. Ông Đ và bà T đã nhiều tuổi, ông Đ xin ly hôn bà T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Tòa án quan tâm, bảo vệ quyền lợi của bà T vì bà T hiện nay sống một mình tại thôn L, xã T, bà không làm nghề phụ, trên 60 tuổi, nên sức khỏe không được tốt.

Về công nợ, công sức đóng góp, trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Xác minh tại UBND xã T xác định: Ông Đ là Đại tá quân đội về hưu, có quê quán tại thôn T, xã T; bà T là công dân xã T. Trước khi kết hôn, ông bà sống chung như vợ chồng tại thôn T từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 10 năm 2016 ông Đ và bà T kết hôn với mong muốn cùng nhau chăm sóc, cùng nhau sống vui, khỏe lúc tuổi già. Sau khi ông bà chung sống cùng với nhau được một khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bà không hợp nhau về tính cách. Đến cuối năm 2023, bà T đã về thôn L, xã T sinh sống nên ông Đ đã nộp đơn xin ly hôn bà T đến UBND xã T. Vì vậy, UBND xã T không tiến hành hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng ông bà. Ông bà đã nhiều tuổi, nay ông Đ xin ly hôn bà T, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông bà ly hôn theo quy định của pháp luật. Về con: vợ chồng ông bà không có con chung, con nuôi, bà T không có con riêng, ông Đ có 04 con riêng đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Ông bà không có nhà đất chung ở địa phương. Nhà và đất là của ông Đ tạo dựng trước khi chung sống với bà T. Về công sức đóng góp: Trong quá trình chung sống cùng ông Đ, bà T không có nghề nghiệp gì, không cấy ruộng ở địa phương, không làm nghề phụ. Địa phương thấy bà T không có đóng góp gì vào việc tạo lập, tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất của ông Đ, không có đóng góp gì vào việc tu sửa nghĩa trang, mộ phần và các công việc lớn trong gia đình ông Đ nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu về công sức đóng góp của bà T1 theo quy định của pháp luật. Về trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Ông Đông tuổi đã cao, sức khỏe yếu, còn bả T sức khỏe bình thường đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam quyết định:

Căn cứ các Điều 51, 56, 107, 115, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân gia đình; các Điều 147, 266 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26; khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Sơn Đ và bà Trương Thị T.
  2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị T về việc yêu cầu ông Nguyễn Sơn Đ thanh toán 768.000.000 đồng tiền công sức đóng góp.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Trương Thị T về việc yêu cầu ông Nguyễn Sơn Đ cấp dưỡng khi ly hôn. Buộc ông Nguyễn Sơn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng một lần cho bà Trương Thị T số tiền 20.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo. Trong thời hạn luật định, ngày 20 tháng 9 năm 2024 bà Trương Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Trương Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ đơn kháng cáo của bà Trương Thị T; giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Án phí phúc thẩm bà Trương Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên không phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trương Thị T làm trong thời hạn luật định và đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà ông Nguyễn Sơn Đ vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trương Thị T, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị T không đồng ý ly hôn với ông Nguyễn Sơn Đ, trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Sơn Đ xác định quá trình chung sống, do ông bà tính tình không hợp, bà T không hết lòng chăm sóc ông Đ, hay tự ý về nhà mẹ đẻ ở, hơn nữa các con riêng của ông Đ không ủng hộ cuộc hôn nhân của ông bà nên ông bà phát sinh mâu thuẫn hay cãi chửi nhau, làm tình cảm vợ chồng rạn nứt, phai nhạt. Ông bà đã có thời gian sống ly thân dài và không còn quan tâm đến nhau, không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm và hàn gắn quan hệ vợ chồng; bản thân bà T cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Đ và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn và nhân gia đình xử ly hôn giữa ông Đ và bà T là có căn cứ.

Về con chung: Ông Nguyễn Sơn Đ và bà Trương Thị T cùng xác định ông bà không có con chung, hiện nay bà T không mang thai; ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.

Về tái sản, công nợ: Ông Nguyễn Sơn Đ và bà Trương Thị T không yêu cầu giải quyết nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.

Về công sức đóng góp: Bà T yêu cầu ông Đ thanh toán số tiền 768.000.000 đồng (08 năm chung sống = 96 tháng x 08 triệu đồng/tháng). Ông Nguyễn Sơn Đ xác định trong quá trình chung sống cùng ông bà T không có đóng góp tiền của hay công sức vào việc tạo lập, tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất của ông Đ, không có đóng góp tiền vào các công việc lớn trong gia đình ông Đ. Bản thân ông Đ là người trực tiếp chi tiền ăn uống, sinh hoạt hàng ngày của hai vợ chồng. Tại phiên toà phúc thẩm bà Trương Thị T cũng không đưa ra được tài liệu nào chứng minh cho việc bà có công sức, tiền của đóng góp vào việc tôn tạo, xây dựng các công trình do ông Đ đang quản lý. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà T là có căn cứ.

Về cấp dưỡng khi ly hôn: Bà T yêu cầu ông Đ trợ cấp (cấp dưỡng) số tiền 100.000.000 đồng, quá trình giải quyết vụ án xác định Đ tuy có lương hưu nhưng hiện nay ông đã 80 tuổi, bản thân có nhiều bệnh như tim, huyết áp, phối, dạ dày, gan, mật; hàng tháng ông phải đi khám bệnh định kỳ và điều trị bệnh tại các bệnh viện; bản thân bà T tuy tuổi cũng trên 60 tuổi, bản thân không có con, không có nghề phụ, hiện nay phải điều trị bệnh lý về sỏi thận, tim mạch nên khó khăn; việc bà T yêu cầu ông Đ cấp dưỡng số tiền 100.000.000 đồng là vượt quá khả năng của ông Đ. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tình hình thực tế kinh tế của ông Đ mà chấp nhận ở mức 20.000.000 đồng là phù hợp.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bà T đối với bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Bà Trương Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí cho bà T.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo bà Trương Thị T; giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
  2. Án phí ly hôn phúc thẩm: Bà Trương Thị T không phải chịu.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - TAND, VKSND huyện Thanh Liêm;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Công Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo bà Trương Thị T; giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 13/2024/HNGĐ - ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger