Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 13 - 5 - 2024

V/v “Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Bà Lê Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:

Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 09/5/2024 và ngày 13/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2023/TLPT-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33/2024/QĐ-PT ngày 25/3/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lô Thị Đ, sinh năm 1984.
  2. Địa chỉ: Nhà ông Lô Văn L, thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

  3. Bị đơn: Anh Lý Văn M, sinh năm: 1976.
  4. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C1.
  6. Địa chỉ: Tòa nhà C, khu bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T. Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng C1.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Chắng Khánh Quỳnh L1, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Do có kháng cáo của: Anh Lý Văn M – Bị đơn.

(anh M có mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin vắng mặt khi tuyên án; chị Đ, Ngân hàng C1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Lô Thị Đ trình bày: Chị và anh M xây dựng gia đình với nhau vào năm 2005, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L vào năm 2008. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng về tính cách, lối sống, quan điểm sống. Anh M thường xuyên ghen tuông, không lo làm ăn để phát triển kinh tế. Mỗi lần uống rượu anh M lại chửi bới, xúc phạm, đánh đập chị. Mặc dù vợ chồng anh chị đã cố gắng để hàn gắn tình cảm nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và cháu Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000đ/cháu/tháng.

Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có nợ Ngân hàng C1 xã hội huyện L số tiền là 50.000.000đ, khi ly hôn chị muốn tự thương lượng giải quyết nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Lý Văn M trình bày: Anh và chị Đ xây dựng gia đình với nhau vào năm 2005 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L vào năm 2008. Cuộc sống chung của vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Đ có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác. Anh cũng đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng chị Đ vẫn không thay đổi. Mỗi lần xảy ra mâu thuẫn do chị Đ vẫn không thay đổi nên anh có đánh chị Đ vài lần. Sau khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng anh chị cũng đã hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 4/2023 cho đến nay. Qua yêu cầu ly hôn của chị Đ thì anh không đồng ý ly hôn bởi anh vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Đ, bên cạnh đó hiện nay các con anh đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của cả hai vợ chồng.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và cháu Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có nợ Ngân hàng C1, phòng giao dịch huyện L số tiền là 50.000.000đ. Khi ly hôn anh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng C1 bà Chắng Khánh Quỳnh L1 trình bày:

Căn cứ hồ sơ công nợ của gia đình bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M tại PGD Ngân hàng C1 huyện L. Hiện nay gia đình bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M còn nợ PGD Ngân hàng C2 (ủy thác qua Hội Cựu chiến binh xã T) số tiền là: 50.409.315đồng (Năm mươi triệu bốn trăm lẻ chín ngàn ba trăm mười lăm đồng). Trong đó: Tiền nợ gốc là: 50.000.000đồng, tiền nợ lãi là 409.315đồng. Tổng cộng là: 50.409.315đồng.

Hồ sơ công nợ lưu tại PGD NHCSXH huyện L: Chủ hộ vay vốn là bà Lô Thị Đ và người thừa kế là ông Lý Văn M. Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (Có hồ sơ vay vốn kiêm khế ước nhận nợ chi tiết đính kèm). Nay là bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M đang giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, Phòng C2 yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà giải quyết về số nợ mà gia đình bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M đã vay của NHCSXH huyện L trong vụ án xin ly hôn này và buộc gia đình bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M phải hoàn trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng với số tiền là: 50.409.315đồng, nhằm tránh thất thoát Ngân sách của Nhà nước.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.

Tại bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:

  1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Lô Thị Đ, xử cho chị Lô Thị Đ và anh Lý Văn M được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và cháu Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013 cho chị Lô Thị Đ có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh Lý Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về nợ chung: Buộc chị Lô Thị Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C1, chi nhánh L2, phòng giao dịch huyện C2 số tiền gốc là 25.000.000đ, tiền lãi suất tính đến ngày 18/01/2024 là 248.000đ. Tổng cộng là 25.248.000₫
  4. Buộc anh Lý Văn M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C1, chi nhánh L2, phòng giao dịch huyện C2 số tiền gốc là 25.000.000đ, tiền lãi suất tính đến ngày 18/01/2024 là 248.000đ. Tổng cộng là 25.248.000đ.

    Đồng thời chị Lô Thị Đ, anh Lý Văn M phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh kể từ ngày 19/01/2024 theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

    Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 01/02/2024 bị đơn anh Lý Văn M kháng cáo đề nghị Toà án giải quyết giao 02 con chung tên Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013 cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh M không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa hôm nay:

Bị đơn anh Lý Văn M vẫn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Toà án giao 02 con chung tên Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013 cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Lý Văn M. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Lý Văn M nộp trong hạn luật định, người kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ hôn nhân, tài sản chung, nợ chung: Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của anh Lý Văn M về phần con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Cả chị Đ và anh M đều thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013. Khi ly hôn, cả chị Đ và anh M đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Xét nguyện vọng này của chị Đ, anh M là chính đáng, thể hiện được trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện nay, hai con chung đều đã trên 07 tuổi, qua lời trình bày của cháu H và cháu C đều mong muốn được ở với mẹ. Bà Đ có công việc ổn định và thu nhập hàng tháng đảm bảo cho việc chăm sóc, ăn học của các cháu. Trong khi đó, qua chính lời trình bày của ông M tại biên bản lấy lời khai ngày 23/11/2023 (Bút lục số 18) thể hiện việc ông đang ở nhà thuê, do bệnh tật nên đi làm không đều, mỗi tháng thu nhập trung bình khoảng 02 đến 03 triệu đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm phân tích, nhận định và căn cứ vào tình hình thực tế để giao cả 02 con chung cho bà Đ chăm sóc nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt đối với con chung, phù hợp với nguyện vọng của con và quy định của pháp luật. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lý Văn M, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lý Văn M. Giữ nguyên Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lô Thị Đ, xử cho bà Lô Thị Đ và ông Lý Văn M ly hôn.
  2. Về con chung: Giao giao 02 con chung tên Lý Hoàng H, sinh ngày 22/9/2009 và Lý Yến C, sinh ngày 03/12/2013 cho bà Lô Thị Đ nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Ông Lý Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Về án phí: Bà Lô Thị Đ phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc xin ly hôn và 1.262.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng 1.562.000đ nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000082 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Chị Đ còn phải nộp tiếp 1.262.000đ án phí còn thiếu.

    Anh Lý Văn M phải chịu 1.262.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm. Tổng cộng 1.562.000đ nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0004456 ngày 01/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Anh M còn phải nộp tiếp 1.262.000đ án phí còn thiếu.

  4. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC;
  • - VKSND tỉnh LĐ;
  • - TAND huyện Lâm Hà (02);
  • - Phòng KTNV&THA
  • - Các đương sự (03);
  • - Lưu AV – HS (04).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lô Thị Đào “Xin ly hôn” Anh Lý Văn Man
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger