|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 08/2024/DS-ST Ngày: 17-4-2024 V/v Tranh chấp thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Hoàng;
- Ông Nguyễn Lâm Tới;
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Toà án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Chi, Kiểm sát viên.
Ngày 10 và ngày 17/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2019/TLST-DS, ngày 21/5/2019 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-DS ngày 21/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-DS ngày 19/3/2024, giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
- - Bà Lê Thị T, sinh năm 1971, nơi cư trú: tổ B, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Ông Lê Tấn D, sinh năm 1973, nơi cư trú: tổ E, ấp V, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Bà Lê Thị T1, sinh năm 1974, nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang.
Đồng bị đơn:
- - Ông Lê Văn P, sinh năm 1981, nơi cư trú: tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
- - Ông Lê Văn L, sinh năm 1975, nơi cư trú: ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Ánh T2, sinh năm 1985, nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.
2
Đồng nguyên đơn có mặt; đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa (bà T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện và ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, đồng nguyên đơn: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1 trình bày:
Cha mẹ đồng nguyên đơn là ông Lê Văn H (chết năm 2004) và bà Đặng Thị C (chết năm 2017). Cha mẹ chết không để lại di chúc, có để lại tài sản là quyền sử dụng đất gồm:
- Thửa đất số 1924, diện tích 2091m2, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại xã A, thị xã T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773 QSDĐ/kK, cấp ngày 22/6/2000; ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng.
- Thửa đất số 19, diện tích 2857,4m2, tờ bản đồ số 09, đất tọa lạc tại xã A, thị xã T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03297 QSDĐ/kK, cấp ngày 10/5/2005; ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C cùng đứng tên chủ sử dụng.
- Diện tích đất 10.000m2 tọa lạc tại ấp A, xã A, thị xã T; đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Diện tích đất 320m2 tọa lạc vị trí nằm cặp tỉnh lộ 948 (cặp chùa B), đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế gồm: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1, Lê Văn P, Lê Văn L và Lê Thị Ánh T2.
Quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với các tài sản gồm: Thửa đất số 19, diện tích 2857,4m2; diện tích đất 10.000m2; diện tích đất 320m2. Đồng nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện chia thừa kế đối với phần đất có diện tích 1956,8m2 (qua đo đạc thực tế) thuộc thửa đất số 1924, tờ bản đồ số 01, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 - ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng được thể hiện tại các điểm: 21, 22, 23, 26, 1, 2, 3, 7, 8, 19, 20 về 21 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất chi nhánh T3 lập ngày 13/7/2021.
Đồng nguyên đơn đề nghị Toà án phân chia thửa đất mà đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế gồm 02 thửa có diện tích tương đương nhau, trong đó đồng nguyên đơn cùng sử dụng chung 01 thửa; các đồng thừa kế khác gồm: P, L và T2 cùng đồng sử dụng 01 thửa. Đồng nguyên đơn xác định cha mẹ của đồng nguyên đơn chỉ có 06 người con gồm: T, D, L, T1, P và T2. Ngoài ra không còn ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Ý kiến đối với việc đồng nguyên đơn khởi kiện, tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ ngày 30/6/2022, bị đơn ông Lê Văn L
3
trình bày: Bị đơn đồng ý phân chia tài sản này theo pháp luật như đồng nguyên đơn khởi kiện trình bày, bị đơn không có ý kiến nào khác.
Đồng thời, tại biên bản ghi nhận sự vắng mặt ngày 26/9/2022, bị đơn ông Lê Văn L có ý kiến: Bà T1 đề nghị chia là 02 thửa, bị đơn đồng ý, bị đơn đề nghị bị đơn (L), P và T2 cùng đứng tên chủ sử dụng đất trên 01 thửa.
Tại tờ tự khai ngày 21/7/2023, bà Lê Thị Ánh T2 trình bày: Việc anh chị em tranh chấp với nhau, bà không có ý kiến. Đối với tranh chấp chia tài sản cha mẹ để lại bà không yều cầu gì trong vụ án chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết đúng theo quy định pháp luật.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định; đồng nguyên đơn và ông L có mặt; ông P và bà T2 vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và công khai tài liệu, chứng cứ vắng mặt các ông, bà: Phi và T2 theo quy định.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá đối với tài sản tranh chấp.
Tại Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh T3 lập ngày 13/7/2021 thể hiện: Thửa đất tranh chấp là thửa 57 được xác định từ các điểm số 21, 22, 23, 26, 1, 2, 3, 7, 8, 19, 20 về 21 với diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK, cấp ngày 22/6/2000 - ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng.
Tại Biên bản định giá ngày 12/7/2022, Hội đồng định giá kết luận:
- - Đất trồng cây lâu năm, đường 948 suốt tuyến, vị trí 1 có giá 45.000 đồng/m2;
- - Diện tích 1956,8m2 x 45.000 đồng/m2 = 88.056.000 đồng (căn cứ Quyết định số 70/2019/QĐ-UBND ngày 23/12/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh A về việc ban hành bảng giá các loại đất áp dụng giai đoạn 2020 – 2024 trên địa bàn tỉnh An Giang).
Tại phiên tòa,
Đ nguyên đơn xác định không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác; không yêu cầu Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ. Đối với yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật của ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C là quyền sử dụng đất, diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000; đồng nguyên đơn yêu cầu chia làm 02 thửa bằng nhau và xin được nhận phần thửa đất có mồ mả của cha mẹ trên đất để thuận tiện cho việc chăm lo hương khói. Đồng nguyên đơn rút lại yêu cầu chia thừa kế đối với các diện tích đất khác. Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, bà T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
4
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Các đương sự trong vụ án cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về giải quyết vụ án:
Ông H, bà C chết không để lại di chúc, đồng thừa kế của ông H, bà C khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của ông H là quyền sử dụng đất có diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 - ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng; đồng nguyên đơn và bị đơn ông L cùng thống nhất chia thửa đất làm 02 phần bằng nhau: Ông D, bà T, bà T1 được quản lý, sử dụng diện tích 978,4m2; ông L, ông P, bà T2 được quản lý, sử dụng 978,4m2.
Nhận thấy, do diện tích phần đất 1956,8m2 trong trường hợp chia đều thành 06 phần thì phần đất sau khi chia không đủ diện tích tách thửa tối thiểu theo quy định pháp luật về đất đai nên việc đồng nguyên đơn và bị đơn ông Lê Văn L có yêu cầu phân chia thành 02 thửa bằng nhau là sự tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật, do đó yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn có cơ sở chấp nhận.
Đối với việc đồng nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với thửa đất có diện tích 2857,4m2; phần đất có diện tích 10.000m2; thửa đất có diện tích 320m2, nhận thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên đề nghị đình chỉ.
Trên cơ sở phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 609, 610, Điều 649; 650, 651 và khoản 2 Điều 660 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn; xác định diện tích đất 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 do ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng là di sản của ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C chết để lại được chia thừa kế theo pháp luật cho hàng thừa kế nhứ nhất gồm: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1, Lê Văn P, Lê Văn L, và Lê Thị Ánh T2. Phân chia cụ thể như sau:
- + Ông D, bà T, bà T1 được quản lý, sử dụng diện tích 978,4m2 (kèm theo bản trích đo địa chính);
- + Ông L, ông P, bà T2 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 978,4m2 (kèm theo bản trích đo địa chính).
5
- - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về việc yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật các di sản là quyền sử dụng đất gồm: Phần đất có diện tích 2857,4m2; phần đất có diện tích 10.000m2; phần đất có diện tích 320m2 do đồng nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy:
Về tố tụng:
[1] Đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản do cha mẹ chết để lại là quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã A, thị xã T; bị đơn ông Lê Văn L có nơi cư trú tại xã A, thị xã T, xét đây là tranh chấp về thừa kế tài sản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (gọi tắt là BLTTDS).
[2] Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đồng nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với các di sản gồm: Phần đất có diện tích 2857,4m2; phần đất có diện tích 10.000m2; phần đất có diện tích 320m2. Đồng nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện chia thừa kế theo pháp luật đối với phần đất có diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 - ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng được thể hiện tại các điểm: 21, 22, 23, 26, 1, 2, 3, 7, 8, 19, 20 về 21 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất chi nhánh T3 lập ngày 13/7/2021.
Xét, đây là sự tự nguyện và quyền tự định đoạt của đương sự nên chấp nhận, đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu mà nguyên đơn đã rút, Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn theo quy định tại Điều 244 và Điều 5 BLTTDS như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[3] Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt), Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 BLTTDS.
Về nội dung:
[4] Xem xét yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn thấy rằng:
[4.1] Các đương sự đều có lời khai thống nhất, ông Lê Văn H (chết năm 2004) và bà Đặng Thị C (chết năm 2017) có tất cả 06 người con gồm: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1, Lê Văn P, Lê Văn L và Lê Thị Ánh T2, không còn ai khác thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông H, bà C. Sinh thời, cha mẹ có tạo lập di sản là phần đất có diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 do ông H đứng tên chủ sử dụng. Cha mẹ chết không để lại di chúc.
6
Xét, đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh do các đương sự đều thừa nhận theo quy định tại Điều 92 BLTTDS.
[4.2] Từ đó, có căn cứ xác định, di sản của ông H, bà C chết để lại là quyền sử dụng đất diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000; hàng thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật của ông H, bà C được xác định gồm: T, D, L, T1, P và T2.
Căn cứ Biên bản định giá ngày 12/7/2022, di sản của ông H, bà C được xác định: Diện tích 1956,8m2 x 45.000 đồng/m2 = 88.056.000 đồng.
Ông H, bà C chết không để lại di chúc, đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông H, bà chi theo pháp luật là có căn cứ chấp nhận như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[4.3] Khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Do đó, kỷ phần mỗi đồng thừa kế được hưởng là: 1956,8m2: 6 = 326,13m2 tương đương giá trị mỗi kỷ phần được xác định là 326,13m2 x 45.000 đồng/m2 = 14.765.850 đồng.
Khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về việc người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
Xét, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đồng nguyên đơn có yêu cầu chia di sản bằng hiện vật thành 02 thửa, đồng nguyên đơn cùng sử dụng chung 01 thửa, đồng bị đơn và bà T2 cùng sử dụng chung 01 thửa, ý kiến này của đồng nguyên đơn cũng được bị đơn ông L đồng ý, bà T2 không có ý kiến khác. Thấy rằng, di sản là đất trồng cây lâu năm nếu phân chia thành 06 phần bằng nhau thì mỗi đồng thừa kế chỉ nhận được phần đất có diện tích 326,13m2, không đủ điều kiện tách thửa theo quy định pháp luật về đất đai nên chấp nhận theo ý kiến của đồng nguyên đơn chia di sản thành 02 thửa bằng nhau, mỗi thửa có diện tích 978,4m2; đồng nguyên đơn gồm các ông, bà: T, D, T1 cùng sử dụng 01 thửa và đồng bị đơn gồm: P, L và T2 cùng sử dụng 01 thửa.
Tại phiên tòa, đồng nguyên đơn có yêu cầu được nhận phần thửa đất có mồ mả của cha mẹ để thuận tiện cho việc chăm sóc, hương khói, thấy rằng yêu cầu này của đồng nguyên đơn là phù hợp với truyền thống, đạo lý, nét đẹp văn hóa của người Việt nên chấp nhận. Cụ thể, đồng nguyên đơn được sử dụng thửa 57, được xác định từ các điểm: 2, 3, 7, 8, 19, 28, 27 về 2, diện tích 978,4m2; đồng bị đơn và bà T2 được sử dụng thửa tạm 2, được xác định từ các điểm số 27, 28, 20, 21, 22, 23, 26, 1 về 27, diện tích 978,4m2 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ1 chi nhánh T3 lập ngày 16/4/2024 (bản trích đo này được tách thửa theo đề nghị của Tòa án trên cơ sở Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng
7
Đ1 chi nhánh T3 lập ngày 13/7/2021) như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Xem xét các chi phí tố tụng phát sinh trong vụ án:
Quá trình tố tụng, phát sinh chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản, bà T đã nộp tạm ứng đủ chi phí tố tụng và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng này nên không đề cập xem xét.
[6] Về án phí: Các đồng thừa kế được hưởng di sản nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 609, 612, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế theo pháp luật của đồng nguyên đơn;
- - Xác định di sản của ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C chết để lại là quyền sử dụng đất diện tích 1956,8m2 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02773/KK cấp ngày 22/6/2000 - ông Lê Văn H đứng tên chủ sử dụng thuộc thửa 1924, tờ bản đồ số 01, đất tọa lạc tại xã A, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Giao cho các ông, bà: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1 được sử dụng phần đất thuộc thửa 57, diện tích 978,4m2 tọa lạc tại xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; vị trí thửa đất được xác định từ các điểm: 2, 3, 7, 8, 19, 28, 27 về 2 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ1 chi nhánh T3 lập ngày 16/4/2024;
- - Giao cho các ông, bà: Lê Văn P, Lê Văn L và Lê Thị Ánh T2 được sử dụng phần đất thuộc thửa tạm 2, diện tích 978,4m2 tọa lạc tại xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; vị trí thửa đất được xác định từ các điểm: 27, 28, 20, 21, 22, 23, 26, 1 về 27 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ1 chi nhánh T3 lập ngày 16/4/2024;
Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng Đ1 chi nhánh T3 lập ngày 16/4/2024 là một phần không tách rời bản án.
Các ông, bà: T, D, T1, L, P, T2 có trách nhiệm liên hệ các cơ quan chức năng thực hiện việc kê khai, đăng ký lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
[2] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với các tài sản là quyền sử dụng đất gồm:
- - Thửa đất số 19, diện tích 2857,4m2, tờ bản đồ số 09, đất tọa lạc tại xã A,
8
thị xã T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03297 QSDĐ/kK, cấp ngày 10/5/2005; ông Lê Văn H và bà Đặng Thị C cùng đứng tên chủ sử dụng.
- - Diện tích đất 10.000m2 tọa lạc tại ấp A, xã A, thị xã T; đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Diện tích đất 320m2 tọa lạc vị trí nằm cặp tỉnh lộ 948 (cặp chùa B), đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Các ông, bà: Lê Thị T, Lê Tấn D, Lê Thị T1, Lê Văn P, Lê Văn L và Lê Thị Ánh T2, mỗi người phải chịu 733.000 (bảy trăm ba mươi ba nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Tấn D đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nên được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp; ông D phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm là 433.000 (bốn trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
[4] Quyền kháng cáo:
Đồng nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các ông, bà: Lê Văn P, Lê Văn L và Lê Thị Ánh T2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 08/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ranh chấp thừa kế
