Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 08/2024/DS – PT

Ngày: 05.01.2024

V/v “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Trang Thư

Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thanh Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 333/2023/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 59/2023/DSST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 500A/2023/QĐ - PT ngày 19 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960.
  • Địa chỉ: Số A B, khu vực Bình Yên B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1959.
  • Địa chỉ: 2 B, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • * Bị đơn: Bà Võ Kim N, sinh năm 1982.
  • Địa chỉ: Số B đường B, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Nguyễn Võ Thảo M, sinh năm 2006;
    • - Nguyễn Gia H, sinh năm 2011.

Địa chỉ: Số B đường B, khu vực Bình Dương, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

Người giám hộ: Bà Võ Kim N, sinh năm 1982 (là mẹ ruột).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Huỳnh Công T trình bày: Ngày 24/9/2022, ông Nguyễn Văn Đ có nhận chuyển nhượng 241,3m² đất từ bà Võ Kim N (40m² đất thổ cư, 201,3m² đất CLN). Ông đã được cấp GCNQSD đất số CX 715231, số vào sổ cấp GCN CS18615 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 13/10/2020. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng, bà N có làm văn bản thỏa thuận tại Văn phòng công chứng Trần Văn T1 đồng ý cho ông Đ đi nhờ trên phần đất còn lại của bà N với chiều rộng 02m, chiều dài từ đất ông Đ đến đường B tại thửa 861 của bà Đ. Tuy nhiên, hiện nay bà N tự ý cắm cọc chừa lại 01m để ông Đ đi. Việc làm này của bà N vi phạm Văn bản thỏa thuận đã ký giữa ông Đ và bà N khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nay, yêu cầu bà Võ Kim N thực hiện Văn bản thỏa thuận đã ký ngày 24/9/2020 tại Văn phòng công chứng Trần Văn T1 về việc cho ông Đ đi nhờ qua thửa 861 chiều rộng 02m, chiều dài từ đất ông Đ đến đường B.

Ông yêu cầu đo đạc diện tích đường đi đang tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Theo đơn phản tố bị đơn bà Võ Kim N trình bày: Ngày 24/9/2020, bà có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ phần đất có diện tích 241,3m² đất (40m² đất thổ cư, 201,3m² đất CLN). Tuy nhiên, bà không chuyển nhượng đường đi cho ông Đ vì đây là đường đi nội bộ trong gia đình bên chồng bà, trong đó có 02m của anh chồng bà và 02m của bà. Bà có làm Văn bản thỏa thuận ngày 24/9/2020 tại Văn phòng công chứng Trần Văn T1 về việc cho ông Đ đi nhờ qua thửa 861 chiều rộng 02m, chiều dài từ đất ông Đ đến đường B.

Nhưng sau khi ông Đ xây dựng nhà trọ lại xây hàng rào 02m phần đường đi của bà (ngang 02m dài 29m), bà không đồng ý để ông Đ xây hàng rào trên phần đất của bà, bà chỉ cho đi nhờ không đồng ý việc xây cất hay làm hàng rào phần đường đi của bà.

N có đơn phản tố yêu cầu phía ông Đ bồi hoàn giá phần đất làm lối đi là 570.000.000 đồng.

Tại bản án sơ thẩm số 59/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Bình Thuỷ đã tuyên như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn Nguyễn Văn Đ được mở lối đi qua thửa đất 861, tờ bản đồ số 10 giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất số CS15982 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 05/10/2018 cho bà Võ Kim N. Phần đất lối đi tranh chấp tiếp giáp với đường B có chiều ngang 1,75m, phần phía sau tiếp giáp với đất của nguyên đơn diện tích chiều ngang 2m theo bản trích đo địa chính số 284/TTKTTNMT ngày 06/4/2023 của Trung tâm K.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Võ Kim N buộc nguyên đơn Nguyễn Văn Đ đền bù số tiền 394.947.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất cho bị đơn Võ Kim N.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Vào ngày 08/8/2023, nguyên đơn ông Huỳnh Công T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu giải quyết:

  • Huỷ toàn bộ Bản án sơ thẩm số 59/2023/DSST ngày 26/7/2023 do áp dụng chưa đúng khoản 1 Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015, không xem xét Văn bản thoả thuận cho đi nhờ không kèm điều kiện cũng như thời gian cho đi nhờ.
  • Buộc bà N phải trả lại 2m đường đi cho ông Đ sử dụng như Văn bản thoả thuận được công chứng tại Văn phòng C ngày 24/9/2020.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Huỳnh Công T trình bày: Nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo không tiếp yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm mà chỉ yêu cầu bà N cho ông Đ sử dụng lối đi 2m đường như Văn bản thoả thuận ngày 24/9/2020, không đồng ý trả giá trị lối đi cho bà N như quyết định của bản án sơ thẩm. Đề nghị HĐXX xem xét phần áp dụng pháp luật Luật đất đai năm 2023 của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

  • Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Đối với các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung giải quyết vụ án: Trên cơ sở tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua diễn biến tại phiên toà. Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 2 điều 308 BLTTDS, sửa một phần bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, điều chỉnh lại phần

buộc nguyên đơn trả giá trị lối đi chiều ngang 01m đối với Bản án sơ thẩm số 59/2023/DSST ngày 26/7/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trong hạn luật định, thủ tục thực hiện đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện cho rằng bà N tự ý cắm cọc chừa lại 01m chiều ngang làm lối đi trên phần đất đã thỏa thuận cho ông Đ đi nhờ với chiều ngang 2m. Nên ông Đ khởi kiện yêu cầu bà N phải thực hiện Văn bản thỏa thuận mở lại lối đi có chiều ngang 2m như thoả thuận ban đầu. Cấp sơ thẩm xác định tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là “Tranh chấp yêu cầu mở lối đi” và vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung tranh chấp và nội dung kháng cáo của bị đơn, nhận thấy:

Vào ngày 24/9/2020, bà Võ Kim N có ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ diện tích đất 241,3m² (40m² đất thổ cư, 201,3m² đất CLN). Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên, ông Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 241,3m², thuộc thửa 985, theo giấy số CX 715231, số vào sổ CS18615 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 13/10/2020. Cùng ngày 24/9/2020, giữa bà N và ông Đ có làm Văn bản thỏa thuận tại Văn phòng công chứng Trần Văn T1, nội dung: “bà N đồng ý cho ông Đ đi nhờ trên thửa đất 861 tờ bản đồ số 10 với chiều ngang 02m và chiều dài đến giáp thửa 985 theo nhu cầu sử dụng của ông Đ”, như vậy theo thoả thuận vị trí lối đi nhờ này có chiều dài giáp thửa đất 985 của ông Đ ra đến đường B trên thửa 861 của bà Đ. Quá trình sử dụng đất, giữa các bên có phát sinh tranh chấp, ông Đ khởi kiện yêu cầu yêu cầu bà Võ Kim N tiếp tục thực hiện Văn bản thỏa thuận đã ký ngày 24/9/2020 về việc cho ông Đ đi nhờ qua thửa 861 chiều rộng 02m, chiều dài từ đất ông Đ đến đường B.

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Võ Kim N có đơn phản tố cho rằng khi ông Đ xây dựng nhà trọ trên thửa 985 đã xây hàng rào trên phần đường đi nhờ ngang 02m dài 29m thuộc thửa 861. Bà N yêu cầu phía ông Đ bồi hoàn giá trị phần đất làm lối đi số tiền là 570.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm căn cứ vào bản trích đo địa chính số 30/TTKTTNMT, ngày 09/5/2018 của Trung tâm K đo đạc lối đi mà các bên đang tranh chấp, xác định gồm có hai phần A và B có tổng chiều ngang là 2,8m, chiều

dài 25,75m; Tổng diện tích phần lối đi này là 96,1m². Các bên thống nhất với bản trích đo địa chính số 284/TTKTTNMT ngày 06/4/2023 của Trung tâm K.

Xét phần đất nguyên đơn yêu cầu bị đơn mở lối đi có vị trí tiếp giáp với đường B chiều ngang trước 1,75m, chiều ngang sau phần tiếp giáp với đất của nguyên đơn là 2m, toàn bộ lối di này thuộc một phần diện tích thửa 861 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS15982 cấp ngày 05/10/2018 cho bà Võ Kim N.

Nhận thấy, theo Văn bản thoả thuận ngày 24/9/2020 đã ghi nhận nội dung thoả thuận của các bên về việc bà N cho ông Đ đi nhờ trên thửa 861 của bà N chiều ngang 02 m chiều dài từ vị trí giáp thửa 895 đến đường B. Tuy nhiên, việc thoả thuận này không xác định thời hạn và không ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên nên bà N có quyền thay đối, chấm dứt thoả thuận vì diện tích lối đi này vẫn đang thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà N theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Tại phiên toà, phía nguyên đơn cho rằng đã thoả thuận mua lối đi này nhưng vì diện tích đất nhỏ, khác thửa nên không thể tách thửa làm giấy được nhưng phía nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ chứng minh nên ý kiến trình bày của nguyên đơn là không có cơ sở xem xét.

Tại cấp sơ thẩm, bà N chỉ đồng ý cho ông Đ đi vào đất nhận chuyển nhượng với chiều ngang 01m, phía nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu được mở lối đi chiều ngang 2m nhưng không phải trả giá trị. Xét thấy, sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà N thì ông Đ đã xây dựng nhà trọ cho thuê, có nhiều người đang ở và sử dụng lối đi này nên diện tích lối đi chiều ngang 1m là chưa đảm bảo cho việc đi lại. Mặt khác, phần đất của ông Đ bị vây bọc bởi các bất động sản liền kề, lối đi này là duy nhất để đi ra đường Bùi Hữu nghĩa. Đồng thời, phía bà N cũng sử dụng lối đi này vào khu mộ gia đình. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà N phải mở lối đi cho ông Đ theo như thỏa thuận là hợp lý.

Theo quy định tại điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015, nguyên đơn có yêu cầu về mở lối đi thì phải đền bù cho bị đơn giá trị quyền sử dụng đất. Để đảm bảo quyền lợi cho các bên và để giải quyết triệt để vụ án nên cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà N buộc ông Đ phải trả giá trị diện tích lối đi chiều ngang 01m, chiều dài 19m là phù hợp, Căn cứ theo chứng thư thẩm định giá thị trường do Công ty cổ phần G thẩm định phần đất tranh chấp có giá trị là 789.895.000 đồng, phía nguyên đơn không đồng ý trả giá trị diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu của bị đơn. Xét theo đơn phản tố và tại phiên toà sơ thẩm bị đơn yêu cầu ông Đ phải trả giá trị diện tích lối đi 2m là 570.000.000 đồng, đây là ý chí tự định đoạt của bà N nên ghi nhận. Xét trong các bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm bà N xác định đồng ý để nguyên đơn tiếp tục đi nhờ 1m chiều ngang, chiều dài 19m nên phần chiều ngang 1m, chiều dài 19 m còn lại ở vị trí A của Bản trích đo địa chính cần

buộc nguyên đơn phải trả giá trị quyền sử dụng đất theo giá bị đơn yêu cầu là phù hợp.

570.000.000 : 2 = 285.000.000 đồng.

Do vậy cần điều chỉnh lại số tiền mà nguyên đơn phải trả cho bị đơn.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không xuất trình được chứng cứ mới nên không có cơ sở xem xét. Do vậy, HĐXX sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[4] Đối với phần tuyên án, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 171 Luật đất đai 2023. Xét thấy, đây là lỗi sơ xuất do đánh máy, lỗi này không nghiêm trọng nên cần điều chỉnh lại Điều 171 Luật đất đai 2013.

[5].Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn nộp án phí do là người cao tuổi theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Điều 171 Luật đất đai 2013

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ

Sửa một phần bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ được mở lối đi qua thửa đất 861, tờ bản đồ số 10 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS15982 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 05/10/2018 cho bà Võ Kim N. Phần đất lối đi tiếp giáp với đường B có chiều ngang 1,75m, phần phía sau tiếp giáp với đất của nguyên đơn diện tích chiều ngang 2m thể hiện tại vị trí A, B theo bản trích đo địa chính số 284/TTKTTNMT ngày 06/4/2023 của Trung tâm K.

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Võ Kim N, buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trả số tiền 285.000.000 đồng giá trị quyền sử dụng đất có chiều ngang 1m, chiều dài 19m, tổng diện tích là 31,6m² thuộc một phần thửa 861 tại vị trí A theo bản trích đo địa chính số 284/TTKTTNMT ngày 06/4/2023 của Trung tâm K) cho bị đơn bà Võ Kim N.

( Kèm theo Bản trích đo địa chính số 284/TTKTTNMT ngày 06/4/2023 của Trung tâm K)

2. Về chi phí thẩm định: số tiền 6.608.000 đồng nguyên đơn và bị đơn mỗi bên phải chịu ½ số tiền này. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng xong nên bị đơn trả lại 3.304.000 đồng cho nguyên đơn.

Về chi phí thẩm định giá thị trường số tiền 10.000.000 đồng, do chấp nhận một phần yêu cầu phản tố nên mỗi bên chịu 5.000.000 đồng. Bị đơn đã nộp tạm ứng xong nên nguyên đơn phải trả lại bị đơn 5.000.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ được miễn án phí.

Bị đơn bà Võ Kim N phải chịu án phí số là 4.376.000 đồng. Khấu trừ vào số tiền 6.700.000 đồng tạm ứng án phí bị đơn nộp, bị đơn được nhận lại số tiền án phí 2.324.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ không phải nộp, do thuộc trường hợp được miễn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - TAND Q. Bình Thuỷ;
  • - Chi cục THADS Q. Bình Thuỷ
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Bích Hải

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/DS – PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp yêu cầu mở lối đi

  • Số bản án: 08/2024/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu mở lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp mở lối đi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger