Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 08/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15 tháng 4 năm 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn, con

chung, tài sản chung”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh H

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Quang Tụng

Bà Nguyễn Thị Thu H1

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Triệu Ngọc Sơn- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn, con chung và tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị L sinh năm 1984

Bị đơn: Anh Phùng Hữu C, sinh năm 1980

Cùng địa chỉ: Khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (chị L và anh C có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Đặng Thị V, sinh năm 1949. Địa chỉ: Khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)

Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Đức D, sinh năm 1972 ; địa chỉ: Khu H, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
  • - Anh Cao Thế P, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố C, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  • - Anh Phùng Văn T, sinh năm 1989, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ(Vắng mặt)
  • - Anh Hoàng Ngọc L1, sinh năm 1976, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Trung N, sinh năm 1986 trú tại khu C, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Đình T1, trú tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)
  • - Ông Vũ Ngọc Đ, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
  • - Anh Đỗ Hồng P1, sinh năm 1978, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)
  • - Chị Võ Thị N1, sinh năm 1990, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (có mặt)
  • - Anh Đỗ Mạnh B, sinh năm 1990, trú tại khu E, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và Phùng Hữu C kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/4/2009 tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại khu 4 xã A được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chửi bới và có khi đuổi chị ra khỏi nhà, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 8/2023 chị về nhà mẹ đẻ để ở, vợ chồng sống ly thân từ đó tới nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị được ly hôn anh Phùng Hữu C.

- Về con chung: Chị L xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Phùng Đại P2, sinh ngày 20/1/2010; cháu Phùng Ngọc H2, sinh ngày 11/02/2012. Khi ly hôn chị và anh C đã thống nhất chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Ngọc H2, anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Đại P2. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

- Về tài sản: Chị L xác nhận vợ chồng có khối tài sản chung là thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m² địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên anh C và chị L. Nguồn gốc của thửa đất trên là do anh chị được Nhà nước giao đất và có thu tiền sử dụng đất. Trên đất có 01 Ngôi nhà cấp 3 (02 tầng) xây dựng năm 2019. Nguồn tiền chị bỏ ra để xây nhà là do chị vay mượn của anh em nhà chị để xây ngôi nhà này

Khi ly hôn, chị yêu cầu được chia đôi quyền sử dụng đất thửa đất 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m² địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ và mỗi người được hưởng ½ giá trị của ngôi nhà trên thửa đất này.

Chị nhất trí để anh C được sử dụng thửa đất, ngôi nhà trên đất nhưng phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị. Chị nhất trí bà V có công sức đối với việc xây dựng ngôi nhà, nên chị đồng ý thanh toán công sức cho bà V bằng 1/3 giá trị ngôi nhà như trị giá tài sản Hội đồng định giá đã định giá.

Ngoài ra vợ chồng còn một số tài sản sinh hoạt gia đình khác có giá trị không đáng kể, chị đều thống nhất không kê khai mà tự chia, không đề nghị Tòa án giải quyết, chị không có yêu cầu gì khác.

2

· Về nợ chung: Chị L không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với việc định giá tài sản tài sản của Hội đồng định giá: Chị nhất trí với trị giá thửa đất 1045, tờ bản đồ số 27 có giá là 420.000.000đ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) và giá trị của ngôi nhà cấp 3 trên đất như Hội đồng định giá 1.056.127.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

* Quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn là anh Phùng Hữu C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân:

Anh xác nhận về quan hệ hôn nhân, con chung và mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng.

Nay chị L xin ly hôn, anh nghĩ cho các con anh nên anh không đồng ý ly hôn chị L. Quá trình giải quyết vụ án đến nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí thuận tình ly hôn chi L.

- Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Phùng Đại P2, sinh ngày 20/1/2010; cháu Phùng Ngọc H2, sinh ngày 11/02/2012.

Khi ly hôn anh chị đã thống nhất chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Ngọc H2, anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Đại P2. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

- Về tài sản: Anh nhất trí về việc anh và chị L cùng đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m2 địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh xác nhận anh đang giữ Giấy chứng nhận QSD đất thửa đất 1045, tờ bản đồ 27 và không cầm cố hay thế chấp ở cá nhân tổ chức nào khác.

Nguồn gốc của thửa đất này là trước khi vợ chồng kết hôn, bố anh (nay đã chết) đã làm đơn xin UBND xã cấp đất nhưng xã chưa đồng ý. Khi được duyệt cấp đất mẹ anh là người đã đi nộp số tiền là 50.300.000 đồng tại UBND xã A. Chị L không có công sức gì đối với thửa đất này.

Đối với ngôi nhà cấp 3 trên đất là do mẹ anh bỏ tiền ra toàn bộ để xây dựng, khi đó anh là công nhân lương thấp nên không có đóng góp về kinh tế, chỉ có đóng góp về công sức xây nhà.

Do vậy, anh không đồng ý chia tài sản là thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m² và ngôi nhà trên đất tại địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn, anh đề nghị được quyền sử dụng thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m² địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ và được quyền sở hữu ngôi nhà trên thửa đất này. Tại các buổi hòa giải anh đồng ý thanh toán chênh lệch tài sản cho chị L số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng), đến nay quan điểm của anh là đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đối với việc định giá tài sản tài sản của Hội đồng định giá: Anh nhất trí với giá đất là 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) và nhất trí với giá trị

3

của ngôi nhà trên đất như Hội đồng định giá 1.056.127.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

- Về nợ chung: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị V trình bày:

- Bà là mẹ đẻ của anh Phùng Hữu C, năm 2009 chị L và anh C đăng ký kết hôn và chung sống cùng bà. Nay anh chị Ly hôn là việc riêng của anh chị nên bà không có ý kiến gì.

* Về tài sản trên đất:

- Đối với thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m² địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ: Nguồn gốc thửa đất là do vợ chồng ông bà là hộ gia đình chính sách, chồng bà là bệnh binh hạng 2 nên bà làm đơn để xin cấp đất nên đã để cho anh C và chị L đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất. Khi đó, bà là người đã bỏ ra số tiền 50.300.000 đồng để được cấp đất đối với thửa đất trên. Thửa đất này là đất của bà, chưa khi nào bà cho vợ chồng anh C và chị L.

- Đối với ngôi nhà xây trên đất: Bà xây dựng năm 2019, toàn bộ chi phí do bà đứng ra lo liệu, khi đó bà đã bán toàn bộ gia tài của mình và bỏ tiền ra để xây dựng ngôi nhà này. Bà đã bán 01 ngôi nhà gỗ 5 gian và 8 sào đất được 1 tỷ 500 triệu đồng. Về việc xây dựng ngôi nhà chi phí hết khoảng 600.000.000 đồng, toàn bộ tiền xây dựng này là của bà lo liệu.

Nay chị L yêu cầu chia tài sản là thửa đất và ngôi nhà nêu trên bà không nhất trí như yêu cầu của chị L.

Đối với việc định giá tài sản tài sản của Hội đồng định giá: Bà nhất trí với giá đất là 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) và đồng ý với giá trị của ngôi nhà trên đất như Hội đồng định giá 1.056.127.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

Người làm chứng trình bày như sau:

  1. Anh Nguyễn Đức D trình bày: Anh là con rể của bà Đặng Thị V năm 2019 anh có nhận xây dựng cho bà V một ngôi nhà 1 tầng âm, 2 tầng nổi tại khu D xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Tổng số tiền công là 250.000.000đ, sau khi xây dựng hoàn tất bà V là người thanh toán tiền cho anh và anh đã nhận đủ số tiền trên.
  2. Anh Cao Thế P trình bày: Ngày 18/3/2020 anh có mua của bà Đặng Thị V 1 ô đất ở khu B, xã A tại thứa số 74 tờ abnr đồ số 35 diện tích 2931,4m² trên đất có căn nhà gỗ 100m² với giá trị chuyển nhượng là 1.550.000.000đ, anh thanh toán cho bà V bằng tiền mặt và không có tranh chấp gì giữa hai bên, anh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do công việc bận nên anh đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.
  3. Anh Phùng Văn T trình bày: Anh là cán bộ của Quỹ tín dụng nhân dân xã A, ngày 23/3/2020, Bà Đặng Thị V trú atij khu D, xã A có đến nhờ anh đếm hộ số tiền 1 tỷ 500 triệu đồng, nhưng anh không biết là tiền gì. Sau đó bà V có gửi 02 sổ tiết kiệm mỗi sổ 300.000.000đ. Chị T2 và chị N2 (con gái bà V) mỗi người gửi sổ tiết kiệm 150.000.000đ. Về việc anh xác nhận vào giấy xác nhận ngày 02/01/2024: Khoảng thời gian gần đây bà V và anh C có mang giấy xác nhận đến và anh đã xác nhận đếm hộ bà V số tiền trên, còn những nội dung khác anh không xác nhận, ngoài ra anh không trình bày gì khác. Do công việc bận nên anh đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.

4

  1. Anh Hoàng Ngọc L1 trình bày: Anh là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng. Khoảng tháng 7/2019 anh có bán vật liệu xây dựng săt thép cho nhà Lan C1 (anh C1 là người liên lạc mua hàng, nhưng hai bên không có hợp đồng mua bán, sau mỗi lần giao hàng anh đều có phiếu giao hàng gửi tại tại gia đình, bất cứ thành viên nào của gia đình đều có thể ký phiếu nhận hàng nên anh không nhớ chính xác ai là người nhận phiếu). Toàn bộ tiền mua vật liệu do bà Vỵ Thanh T3, giữa hai bên không có ký nhận giấy tờ thanh toán. Đối với giấy xác nhận, anh C1 là người cung cấp giấy xác nhận và anh đã ký vào giấy xác nhận đúng là ý chí của anh. Do công việc bận nên anh đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.
  2. Anh Nguyễn Trung N trình bày: Anh là chủ cửa hàng vật liệu xây dựng N, khoảng năm 2019, gia đình chị L anh C1 đã mua vật liệu xây dựng điện nước theo hóa đơn thanh toán, cả chị lan và anh C1( lức thì chị L lúc thì anh C1) còn bà V không liên quan đến việc mua hàng hóa này. Khi giao hàng bất kỳ ai trong gia đình cũng có thể nhận hàng và hóa đơn này, đến nay anh chị Lan C1 không còn nợ tiền của cửa hàng. Do công việc bận nên anh đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.
  3. Anh Nguyễn Đình T1 trình bày: Anh là người lắp đặt thiết bị điện nước cho anh C1 đi lấy, anh C1 là người gọi anh đến làm công trình . Anh biết việc anh C1 lấy vật liệu tại cửa hàng N3, còn ai là người thanh toán anh không biết. Anh C1 là người thanh toán 12 triệu tiền công cho anh. Về giấy xác nhận do anh C2 đánh máy sẵn nên đưa anh ký. Anh chỉ xác nhận lời khai như trên và việc ai thanh toán cho của hàng Nam Toàn anh không biết. Do công việc bận nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.
  4. Ông Vũ Ngọc Đ trình bày: Khoảng năm 2019 gia đình bà V nhờ ông mua vật liệu xây dựng xây nhà. Bà V có đưa cho ông số tiền 30 triệu đồng, ông là người thanh toán tiền tại nhà máy nhưng háo đơn ông trả lại cho gia đình ông không nhớ ai cầm hóa đơn. Công ty giao gạch trực tiếp tại nhà anh chị L, ai là người nhận vật liệu ông không nắm rõ. Do công việc bận nên ông đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.
  5. Chị Võ Thị N1 trình bày: Khoảng năm 2019, anh chị Lan C1 làm nhà nên chị L có hỏi vay của chị số tiền 23 triệu đồng, giữa hai bên không tính lái và không viết giấy tờ. Đến nay chị lan đã trả nợ cho chị toàn bộ số tiền trên.
  6. Anh Đỗ Hồng P1 trình bày: Anh là anh trai chị L, khoảng năm 2019, 2020 chị L vay anh số tiền 50 triệu đồng vay 02 lần. Đến nay chị L đã trả cho anh Toàn bộ số tiền trên.
  7. Anh Đỗ Mạnh B trinh bày: Anh là em trai chị L, khoảng năm 2019 chị L xây nhà có vay của anh số tiền 100 triệu đồng hình thức chuyển khoản 02 lần, giữa hai bên chỉ nói miệng, không tính lãi. Đến nay chị L đã trả cho anh Toàn bộ số tiền này. Do công việc bận nên ông đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt anh tại Tòa án.

Tại phiên tòa,

Anh C1 và chị L thuận tỉnh ly hôn và thỏa thuận về việc trực tiếp nuôi con chung.

Về tài sản chung: chị L xác định nhà và đất là tài sản chung của chị và anh C1 và xác nhận bà V có công sức đóng góp vào việc xây nhà nên đồng ý thanh

5

toán tiền công sức cho bà V bằng 1/3 giá trị ngôi nhà. Chị đồng ý giao tài sản chung cho anh C1 và thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho chị.

Anh C1 và Bà V xác định đất và nhà là tài sản của bà V, anh C1 có công sức đóng góp vào việc xây nhà còn chị L không có công sức gì đối với nhà và đất. Tuy nhiên chị L có đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh C1 và bà V đồng ý thanh toán cho chị L ½ giá trị ô đất. Đối với nhà và đất khi ly hôn, anh C1 và bà V xác định đây là tài sản của bà V nên nếu Hội đồng xét xử xác định là tài sản chung của vợ chồng thì anh không lấy nhà đất và không yêu cầu chị L thanh toán tiền chênh lệch; còn nếu xác định là nhà của bà V thì anh không yêu cầu bà V thanh toán tiền công sức. Bà V xác định ngôi nhà là do bà xây nên là của bà, bà không có tiền để thanh toán tiền công sức cho ai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

- Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị L và anh Phùng Hữu C

- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đỗ Thị L và anh Phùng Hữu C về việc chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc H2, sinh ngày 11/02/2012, anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Đại P2, sinh ngày 20/1/2010. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

- Về tài sản: đề nghị HĐXX căn cứ Điều 29, 33,40, 59, 62 Luật HNGĐ: Giao cho anh C được quyền sử dụng toàn bộ QSD đất thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m2 địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ trị giá 420.000.000₫ Buộc anh C thanh toán cho chị L ½ tiền chênh lệch là 210.000.000 đ.

Giao cho anh C quyền sở hữu và sử dụng toàn bộ công trình vây dựng trên QSD đất thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m2 địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ trị giá 1.056.127.000đ. Buộc anh C thanh toán cho chị L 1/3 giá trị tiền chênh lệch là 352.000.000 đ. Tổng số tiền chị L được hưởng và buộc anh C thanh toán là 562.000.000đ.

Anh C có trách nhiệm thanh toán cho bà V 1/3 tiền công sức đóng góp là 352.000.000 đ nếu bà V có yêu cầu.

- Về nợ chung: Chị L, anh C không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra.

- Về án phí HNGĐ: chị L và anh C phải chịu 150.000 đ tiền án phí trong trường hợp thuận tình ly hôn.

- Về án phí chia tài sản: Chị L và anh C mỗi người phải chịu án phí chia tài sản đối với giá trị tài sản mà mình được chia theo quy định.

6

- Về chi phí tố tụng: Chị L và anh C mỗi người đều phải chịu chi phí tố tụng tương ứng với phần tài sản chung được chia theo quy định.

- Về nợ chung, công sức đóng góp: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về án phí và chi phí tố tụng: Đề nghị giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn chị L, bị đơn anh C có mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà V có mặt, một số người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và xin vắng mặt, không cần phải có mặt người làm chứng nên theo quy định tại khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa: Chị Phùng Thị Hồng T4, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu H, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ có yêu cầu chị Đỗ Thị L trả nợ cho chị T4 số tiền chị L thừa nhận vay trong quá trình giải quyết vụ án là 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), hai bên không có giấy tờ vay nợ. Chị L xác định đây là nợ chung khi xây nhà và đã trả rồi nhưng anh C và bà V xác nhận là nợ riêng của chị L, không liên quan đến việc xây nhà nên Hội đồng xét xử xác định việc vay nợ này không phải nợ chung mà chị T4 lại đưa ra yêu cầu sau phiên họp công khai chứng cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này, chị T4 có yêu cầu sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị và Phùng Hữu C kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 15/4/2009 tại UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại khu 4 xã A được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị L, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh C chửi bới và có khi đuổi chị ra khỏi nhà, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 8/2023 chị về nhà mẹ đẻ để ở, vợ chồng sống ly thân từ đó tới nay. Chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin ly hôn anh C. Phía anh C trình bày, anh xác nhận về quan hệ hôn nhân, con chung và mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày là đúng, theo anh vợ chồng có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2021. Nay chị L xin ly hôn anh nhất trí ly hôn.

Xét thấy, cuộc hôn nhân của chị L và anh C đã đến mức trầm trọng, đời

7

sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L và anh C đều nhất trí thuận tình ly hôn, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh C là phù hợp.

[2.2] Về con chung:

Chị Đỗ Thị L và anh Phùng Hữu c đều thống nhất xác nhận có hai con chung là cháu Phùng Đại P2, sinh ngày 20/1/2010; cháu Phùng Ngọc H2, sinh ngày 11/02/2012. Khi ly hôn chị L và anh C thống nhất thỏa thuận chị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Ngọc H2, anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Đại P2. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

Xét thấy, việc thỏa thuận này của chị L và anh C là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần công nhận.

[2.3] Về tài sản:

Khối tài sản đề nghị chia gồm: Quyền sử dụng đất thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27, diện tích 140 m² địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận QSD đất trên đất đứng tên anh C, chị L. Trên đất có ngôi nhà cấp 3 xây 2 tầng, xây dựng năm 2019. Tài sản được Hội đồng định giá như sau: Thửa đất 1045, tờ bản đồ 27 có trị giá là 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng) và Ngôi nhà cấp 3 xây dựng năm 2019 trên đất có giá là 1.056.127.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).

Tổng trị giá tài sản là: 1.476.127.000₫.

Nguyên đơn và bị đơn đều không thống nhất về khối tài sản chung này. Phía nguyên đơn chị L cho rằng đất và tài sản trên đất nêu trên là tài sản chung của vợ chồng. Bị đơn anh C cho rằng, chị L chỉ đứng tên trên giấy chứng nhận QSD đất nhưng mẹ anh chưa cho vợ chồng anh chị còn về ngôi nhà xây trên đất là do bố mẹ anh tích cóp có được cũng như từ tiền bán nhà, đất của mẹ anh có được xây nên do đó khối tài sản trên không phải là tài sản chung của vợ chồng, mà là của mẹ anh. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà V mẹ anh C có cùng quan điểm như anh C. Do vậy giữa các đương sự không có sự thống nhất về khối tài sản như nêu trên nên không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật.

[2.3.1].

Về xác định quyền sử dụng đất và yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất: Xét thấy, trong hồ sơ vụ án, theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND huyện P giao đất làm nhà ở cho chủ hộ Phùng Hữu C và Đỗ Thị L theo Quyết định số 1625 ngày 30/7/2013. Tại đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/8/2013, anh C đề nghị cấp đất cho hai vợ chồng và tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 801365 ngày 28/3/2014, UBND huyện P cấp đất cho người sử dụng đất là anh C, chị L theo quy định của pháp luật. Do vậy, chị L và anh C là người được nhà nước giao đất làm nhà ở và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Việc cấp đất được thực

8

hiện từ năm 2013 đến nay không có tranh chấp về quyền sử dụng đất, do đó việc bà V và anh C cho rằng đây không phải tài sản của chị L, anh C mà là của bà V là không có căn cứ, ngoài lời khai của bà V, lời khai làm chứng của bà H3 thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh bà V là người đứng ra xin cấp đất cũng như nộp tiền cấp đất. Xác minh tại UBND xã cũng không có tài liệu lưu trữ về việc nộp tiền này. Do đó, có căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27 diện tích 140 m2 địa chỉ tại khu D, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ là tài sản chung của vợ chồng chị L, anh C. Do vậy, việc chị L yêu cầu chia ½ giá trị quyền sử dụng đất là có căn cứ cần chấp nhận.

- Về xác định toàn bộ nhà ở và công trình xây dựng trên đất là tài sản chung và yêu cầu chia:

Quá trình giải quyết vụ án, chị L khai nhận đây là tài sản chung của vợ chồng chị, không liên quan đế bà V, bà V không có bỏ tiền ra xây nhà. Toàn bộ số tiền làm nhà là do chị tích cóp từ khoản tiền lương, bán của hồi môn, bán hàng online và vay mượn mà có. Tổng số tiền làm nhà hơn 01 tỷ đồng, đến nay đã trả hết nợ. Tuy nhiên, anh C và bà V cho rằng, toàn bộ số tiền làm nhà là do bà V bỏ tiền ra xây dựng, chị L và anh C đi làm lương thấp không có tiền tích cóp, không có đóng góp vào việc xây nhà. Để chứng minh cho việc bản thân là người đứng ra xây nhà, bỏ tiền ra xây dựng, chị L đã cung cấp cho Tòa án các hóa đơn mua hàng, phiếu giao hàng.. của một số cửa hàng vật liệu trong năm 2019 (thời điểm chị làm nhà). Các hóa đơn đều ghi khách hàng là nhà L, C, số lượng hàng và số tiền hàng, một số hóa đơn anh C ký, một số hóa đơn chị L ký không có chữ ký của bà V. Về số tiền làm nhà, chị L khai nhận bản thân tích cóp có 500 triệu, vay của một số người quen biết và người thân số tiền tổng số tiền hơn 500 triệu đồng. Tổng chi phí vật liệu xây xong ngôi nhà là 1.016.559.000 + công 259.000.000đ= 1.275.559.000đ. Chị đã tích cóp trả được 350 triệu, còn số tiền 150 triệu vay chị gái thấy khó khăn nên cho và 11.000.000đ mẹ đẻ cho.

Về phía bà V xác định, toàn bộ tiền làm nhà là do bà bỏ ra xây dựng, trong đó có 380.000.000đ là tiền bà bán vàng và của hai vợ chồng tích cóp, sau đó bà giao bán nhà của vợ chồng và bán được số tiền 1,5 tỷ đồng. Trong quá trình làm nhà, bà có vay của một số người quen biết. Sau khi bán được nhà, đất, bà đã đưa cho chị L số tiền 600 triệu để chị L chuyển khoản trả nợ.

Ngoài ra, bà V còn khai đi vay của một số người trùng hợp với tên một số người chị L khai vay và số tiền vay và Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của những người đó và họ xác định, chị L là người đi vay tiền của họ và hiện tại đã trả hết tiền làm nhà. Tòa án không lấy được lời khai của chị gái chị L là chị Đ1 do chị Đ1 đang ở nước ngoài. Tuy nhiên cả bà V và anh C đều thừa nhận anh chị em của chị L có cho vay tổng số tiền là 600.000.000 đồng và đến nay các bên cũng đã thanh toán xong, không còn nợ gì. Do đó việc chị L khai nhận là có căn cứ. Ngoài việc khai nhận bản thân vay tiền làm nhà, bà V khai nhận trong số tiền 1,5 tỷ, bà có đưa cho chị L số tiền 600 triệu để chuyển khoản trả nợ, tuy nhiên trong bảng sao kê số dư tài khoản không thể hiện có số tiền 600 triệu ngày 22/3/2020. Mặt khác, trong bảng sao kê số dư tài khoản cũng không có số tiền nào trùng khớp với số tiền 600 triệu như lời khai của bà V. Người làm chứng ở Quỹ tín dụng nhân dân

9

xã A chỉ chứng kiến việc bà nhờ đếm hộ tiền, cũng không chứng kiến việc bà V đưa tiền cho chị L 600 triệu đồng. Ngoài lời khai của mình, thì không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, bà V là người xây nhà và đưa tiền cho chị L xây nhà. Mặc dù vậy, trong hồ sơ vụ án thể hiện một số chi tiết liên quan đến việc gia đình bà V bán nhà, chuyển nơi cũ đến nơi ở mới, thể hiện bà có thanh toán tiền công xây dựng (là con rể của bà) và vật liệu xây dựng (mặc dù hóa đơn không ghi tên bà V nhưng người bán hàng và người mua hàng hộ xác nhận là bà V thanh toán tiền). Bà V đã chuyển về sinh sống cùng chị L, anh C sau khi làm nhà xong nên cũng cần xem xét công sức đóng góp của bà V. Việc anh C không thừa nhận có đóng góp tiền mà chỉ đóng góp công sức vào việc xây nhà, không thừa nhận là nhà do mình xây dựng tuy nhiên toàn bộ hóa đơn cung cấp vật liệu xây dựng đều thể hiện tên khách hàng là chị L và anh C, không có hóa đơn bán hàng nào tên bà V. Việc anh C không thừa nhận chỉ nhằm chốn tránh nghĩa vụ thanh toán chênh lệch tài sản. Nên cần xác định ngôi nhà xây trên đất là tài sản chung của anh C và chị L trong thời kỳ hôn nhân và có công sức đóng góp của bà V. Chị L có quan điểm đồng ý thanh toán cho bà V 1/3 giá trị tài sản chung là công trình nhà. Do vậy, cần công nhận để đảm bảo quyền lợi cho bà V

Do diện tích đất và toàn bộ công trình nhà xây trên đất không chia được bằng hiện vật. Chị L đồng ý giao cho anh C sử dụng và sở hữu và anh C cũng có nguyện vọng được quyền sử dụng đất và sở hữu nhà và thanh toán lại cho chị L giá trị bằng tiền chênh lệch tài sản theo quy định là phù hợp. Nên xét thấy giao cho anh C được quyền sở hữu ngôi nhà cấp 3 xây năm 2019 và thanh toán chệnh lệch tài sản cho chị L và bà V mỗi người là 352.042.000đ.

[2.4] Về nợ chung và công sức đóng góp: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[2.5]. Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm:

- Về chi phí tố tụng:

+ Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 09/11/2023, chi phí là 8.000.000 đồng. Chị L và anh C mỗi người phải chịu 4.000.000đ chi phí tố tụng. Chị L đã nộp 8.000.000đ. Do vậy, buộc anh C thanh toán cho chị L số tiền chi phí này là 4.000.000đ.

- Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị L và anh C mỗi người phải chịu ½ án phí thuận tình ly hôn là 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) và án phí chia tài sản chung. Bà V được miễn tiền án phí dân sự sơ thâm do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Chị L anh C phải chịu án phí tương ứng với giá trị phần tài sản được chia cụ thể như sau:

+ Chị L được hưởng ½ trị giá đất là 210.000.000đ +1/3 trị giá ngôi nhà là 352.042.000đ. Tổng là 562.042.000đ. Tiền án phí phải chịu là: 26.481.680 đồng

10

+ Anh C được ½ trị giá đất là 210.000.000đ +1/3 trị giá ngôi nhà là 352.042.000đ. Tổng là 562.042.000đ. Tiền án phí phải chịu là: 26.481.680 đồng

[2.6]. Chị L không đề nghị được lưu cư nên không đặt ra giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 59, 60, 61, 62, 81, 81, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 229, khoản 2, 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự ; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị L và anh Phùng Hữu C.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đỗ Thị L và anh Phùng Hữu C về việc chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phùng Ngọc H2, sinh ngày 11/02/2012, anh C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Phùng Đại P2, sinh ngày 20/1/2010. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng ai.

    Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tài sản: Xác nhận tài sản chung của của chị L và anh C bao gồm: thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27, diện tích 140 m² tại khu D, xã A, huyện P trị giá 420.000.000₫ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng); 01 nhà hai tầng nổi 1 tầng âm cùng toàn bộ công trình phụ trợ trên thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27, diện tích 140 m² tại khu D, xã A, huyện P trị giá 1.056.127.000đ và bà Đặng Thị V có công sức đóng góp vào việc xây nhà.
    • - Giao cho anh Phùng Hữu C được được sử dụng thửa đất số 1045, tờ bản đố số 27, diện tích 140 m² tại khu D, xã A, huyện P trị giá 420.000.000 (Bốn trăm hai mươi triệu đồng).
    • - Giao cho anh C được quyền sở hữu 01 nhà hai tầng nổi 1 tầng âm cùng toàn bộ công trình phụ trợ trên thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 27, diện tích 140 m² tại khu D, xã A, huyện P trị giá 1.056.127.000đ (Một tỷ không trăm năm mươi sáu triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
    • - Buộc anh C phải thanh toán chênh lệch tài sản cho chị Đỗ Thị L số tiền là 562.042.000đ (Năm trăm sáu mươi hai triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
    • - Buộc anh C phải thanh toán tiền công sức đóng góp cho bà bà Đặng Thị V số tiền là 352.042.000₫ (Ba trăm năm mươi hai triệu không trăm bốn mươi hai nghìn đồng).
  4. Về nợ chung: Hai bên xác nhận không có nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về số tiền chi phí phí tố tụng: chị L phải chịu 4.000.000 đồng; anh C phải chịu 4.000.000 đồng chi phí thẩm định, định giá tài sản. Xác nhận chị L đã nộp tạm ứng 8.000.000 đồng; buộc anh C phải trả lại cho chị L số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

    Bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Chị Đỗ Thị L phải chịu 75.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 26.481.680 đồng án phí chia tài sản. Tổng là 26.556.680 đồng. Xác nhận chị L đã đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0001734 ngày 06/10/2023 và 21.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0001735 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị L còn phải nộp 5.256.680 đồng tiền án phí.

    - Buộc anh Phùng Hữu C phải chịu 75.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 26.481.680 đồng án phí chia tài sản. Tổng là 26.556.680 đồng.

    - Miễn án phí cho bà Đặng Thị V do thuộc trường hợp người cao tuổi.

    Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Ninh, Phú Thọ
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Đạo, huyện Phù Ninh;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lý Thị Thanh Huyền

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung

  • Số bản án: 08/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung, tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lan xin ly hôn anh Chất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger