Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

——————————
Bản án số: 08/2022/KDTM-PT
Ngày: 22-4-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Dung
  • - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quyến; Bà Lê Thị Minh Trang
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Ngọc Lam Điền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Bảo Trân – Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 19/2021/TLPT.KDTM ngày 27 tháng 10 năm 2021 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2021/QĐXX-PT ngày 31 tháng 12 năm 2021.

Do bản án sơ thẩm số 21/2021/KDTM.ST ngày 16/01/2021 của TAND quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, có kháng cáo, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng A
    Trụ sở: số 89 L, phường L, quận Đ, TP. Hà Nội.
    Địa chỉ chi nhánh: 52-54 T1, phường C1, quận N1, thành phố Cần Thơ.
    Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí E – Chủ tịch HĐ quản trị.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Phước S (có mặt)
    Địa chỉ: tầng 5, số 49 C2, P. A1, quận B1, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn: Công ty TNHH Vận tải và tiếp vận B
    Địa chỉ: 12/16 T2, P. A2, Q. N1, TP. Cần Thơ.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Thái Hữu C – Giám đốc (có mặt)
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    Ông Thái Hữu C, sinh năm 1977 (có mặt)
    Địa chỉ: số 02 ấp G, thị trấn O, huyện M , tỉnh Hậu Giang.
    Ông Lương Vĩnh D, sinh năm 1978 (vắng mặt)
    Địa chỉ: số 69 N, phường X, quận N1, thành phố Cần Thơ.
    Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1964 (có mặt)
    Địa chỉ: số 428, Quốc lộ 1A, thị trấn C2, huyện C3, tỉnh Hậu Giang.
  • - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Trọng T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký các Hợp đồng tín dụng nguyên tắc số: SME/CTO/16/0028/HDNT ngày 22/4/2016; Hợp đồng tín dụng số: SME/CTO/16/0028/HDTD-01 ngày 22/4/2016; Hợp đồng tín dụng số: SME/CTO/16/0028/HDTD-02 ngày 10/5/2016 và Hợp đồng tín dụng số: SME/CTO/16/0048/HDTD ngày 15/7/2016. Vay tổng số tiền là 1.980.462.000 đồng; mục đích vay: mua xe; thời hạn vay là 60 tháng; lãi suất 10,95%/năm. Riêng đối với Hợp đồng tín dụng số: SME/CTO/16/0048/HDTD ngày 15/7/2016, với lãi suất 7,5%/năm. Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bị đơn đã ký các hợp đồng thế chấp xe ô tô số SME/CTO/16/0048/HDTC ngày 15/7/2016; số SME/CTO/16/0018/HDTC ngày 22/4/2016 và ngày 10/5/2016 thế chấp gồm các tài sản: 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG, biển số 65C-067.12; 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-002.28; 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-003.02.

Và bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang bằng toàn bộ tài sản của ông Thái Hữu C và ông Lương Vĩnh D theo Hợp đồng bảo lãnh số SME/CTO/16/0028/HDBL ngày 22/4/2016 và Hợp đồng bảo lãnh số SME/CTO/16/028/HDBL-01 ngày 10/5/2016.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty B không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay của Công ty chuyển sang nợ quá hạn vào ngày 26/02/2018 và chịu lãi suất quá hạn. Sau khi chuyển sang nợ quá hạn, Công ty đã bàn giao các tài sản gồm: 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG, biển số 65C-067.12; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-002.28; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-003.02. Sau khi bàn giao, Ngân hàng đã xử lý tài sản trừ vào số tiền Công ty nợ. Tính đến ngày 16/6/2021 bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền: 1.391.992.534 đồng (Trong đó: nợ gốc là 817.981.699 đồng; nợ lãi trong hạn và quá hạn là: 545.621.500 đồng và lãi chênh lệch (tức lãi ưu đãi): 28.389.335 đồng.

Kể từ ngày 17/6/2021, bị đơn còn phải chịu lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng các bên ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ. Trong trường hợp không trả được nợ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Gồm các tài sản: 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40 và 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46 và đề nghị ông T bàn giao 02 tài sản trên để xử lý.

Trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ thì yêu cầu ông Thái Hữu C và ông Lương Vĩnh D có trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo hợp đồng bảo lãnh đã ký kết với Ngân hàng.

* Ông Thái Hữu C trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của đại diện nguyên đơn về việc giữa Công ty B và Ngân hàng đã ký kết các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và hợp đồng bảo lãnh. Số tiền vay, lãi suất và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ông thống nhất việc Công ty đã bàn giao 03 tài sản thế chấp cho Ngân hàng gồm: 01 xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu CHENGLONG, biển số 65C-067.12; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-002.28; 01 sơ mi rơ mooc, biển số 65R-003.02. Hiện nay còn 02 tài sản thế chấp gồm: 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40 và 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46 đứng tên Công ty B hiện do ông Nguyễn Trọng T đang quản lý, sử dụng. Ông thống nhất việc Công ty còn nợ Ngân hàng tổng số tiền: 1.391.992.534 đồng. Ông đồng ý tiếp tục chịu lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nếu vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Các tài sản thế chấp do Công ty B và ông Nguyễn Trọng T đã cùng góp vốn mua. Đã giao cho Ngân hàng 03 tài sản, còn lại 02 tài sản như Ngân hàng trình bày. Đề nghị ông T giao 02 tài sản để Ngân hàng xử lý. Bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng T về việc ông T yêu cầu ông phải giao số tiền 300.000.000 đồng theo Hợp đồng góp vốn để ông T giao 02 tài sản cho Ngân hàng xử lý. Bởi các bên thỏa thuận góp vốn ngoài số tiền mặt 500.000.000 đồng của mỗi bên thì Công ty B phải đứng ra vay Ngân hàng số tiền còn thiếu để đủ mua 05 tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng với số tiền 1.980.462.000 đồng. Vấn đề này các bên có thỏa thuận trong Hợp đồng góp vốn. Hiện nay Công ty B phải chịu khoản nợ vay của Ngân hàng. Nếu ông T chịu giao tài sản sớm hơn sẽ không nợ Ngân hàng nhiều như vậy. Ông đồng ý tách vụ án tranh chấp hợp đồng góp vốn giải quyết riêng.

* Ông Nguyễn Trọng T trình bày: Ông thừa nhận ông đang quản lý tài sản thế chấp gồm 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40 và 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46 tại Nhà máy điện mặt trời tại Cột gió 150, huyện Vĩnh Hảo, tỉnh Ninh Thuận. Ông không đồng ý giao 02 tài sản trên cho Ngân hàng và Công ty B xử lý tài sản thế chấp. Do ông có vốn góp tiền mặt 500.000.000 đồng có hợp đồng góp vốn hai bên để mua 05 tài sản đứng tên quyền sở hữu Công ty B đã thế chấp cho Ngân hàng A, chính ông C giao 01 xe và 01 Rơ móc cho ông quản lý sau khi làm ăn không hiệu quả, phần còn lại ông C quản lý. Ông thừa nhận trong hợp đồng góp vốn ông và Công ty B có thỏa thuận vay thêm để mua tài sản thế chấp nhưng do Công ty B đứng ra vay, ông không biết khoản nợ vay này, ông không liên quan. Ông đã khởi kiện tranh chấp hợp đồng góp vốn và đồng ý tách vụ kiện tranh chấp hợp đồng góp vốn ra giải quyết riêng với vụ kiện này.

* Ông Lương Vĩnh D trình bày: Ông thừa nhận đã ký hợp đồng bảo lãnh với Công ty B vay tiền Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng để mua xe. Sau khi ông nghỉ việc ở Công ty, ông có bàn giao lại tài sản và tiền cho Công ty. Sau đó có hợp tác làm ăn với Công ty, phía Công ty nợ ông 300.000.000 đồng. Khi ông thu hồi nợ, phía ông C đại diện Công ty cho rằng số tiền đó để thanh toán nợ cho Ngân hàng. Do đó, ông không thu hồi nợ nữa. Về phần tài sản giữa ông T và Công ty, ông thống nhất lời trình bày của Công ty B. Do đã ký hợp đồng bảo lãnh vay Ngân hàng nên ông sẽ có trách nhiệm trong việc thanh toán nợ vay. Do phần lãi phát sinh do giữa công ty và ông T tranh chấp dẫn đến phát sinh. Ông không đồng ý thanh toán phần lãi phát sinh này. Về trách nhiệm phân chia, ông và Công ty B sẽ phân chia trách nhiệm sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng A và Công ty TNHH Vận tải và tiếp vận B có ký kết các Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp. Mục đích vay mua xe kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp đồng, Cty B không thực hiện theo đúng theo thỏa thuận nên Ngân hàng có đơn khởi kiện. Bị đơn có trụ sở tại quận Ninh Kiều nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trọng T về việc không đồng ý giao 02 tài sản mà ông đang quản lý chờ giải quyết hợp đồng hùn vốn giữa ông với ông C, thấy rằng: Để bảo đảm cho các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng, giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký các hợp đồng thế chấp xe ô tô. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi nên nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì xử lý tài sản thế chấp đối với các tài sản theo các hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Công ty đã giao 03 tài sản để ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Riêng đối với 02 tài sản thế chấp còn lại gồm: 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40 và 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46 đứng tên Công ty B thế chấp cho Ngân hàng, hiện nay do ông Nguyễn Trọng T đang quản lý, nhưng Công ty B thế chấp cho Ngân hàng theo các hợp đồng thế chấp đúng quy định pháp luật, do đó khi bị đơn không thanh toán nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là đúng qui định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của ông Nguyễn Trọng T.
  • - Về nội dung: Bác đơn kháng cáo của ông Nguyễn Trọng T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Buộc ông Nguyễn Trọng T giao các tài sản thế chấp gồm: 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 65C-073.40 và 01 Sơ mi rơ móoc, biển số 65R-002.46 đứng tên Công ty B hiện do ông T đang quản lý tại Nhà máy điện mặt trời tại - Cột gió 150, huyện Vĩnh Hảo, tỉnh Ninh Thuận cho bị đơn để bị đơn thực hiện nghĩa vụ với nguyên đơn.
  • - Ông Nguyễn Trọng T phải nộp án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm 2.000.000đ.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND quận Ninh Kiều;
- VKS nhân dân TP. Cần Thơ;
- Chi cục THADS Q.Ninh Kiều;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phan Thị Hồng Dung
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2022/KDTM-PT ngày 22/04/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2022/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2022
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH Vận tải và tiếp vận B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger