Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 08/2022/KDTM-PT

Ngày 15-11-2022

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ngọc

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Lam và bà Nguyễn Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa:

Bà Đặng Thị Bích Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thúy Vinh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15/11/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2021/KDTM-ST ngày 07/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, kháng nghị theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 12/2022/QĐ-PT ngày 07 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 (tên viết tắt OCB). Địa chỉ: Số D, đường L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T, chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn P, chức vụ: Trưởng bộ phận pháp lý tố tụng và ông Hoàng Thế A, chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 chi nhánh V1 (văn bản ủy quyền số 02/2022/UQ-OCB ngày 20/9/2022). Có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần V2. Địa chỉ: Số C, đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Thế Đ, chức vụ: Giám đốc Công ty. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Quý M và bà Võ Thị V. Cùng trú tại: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P1; người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V.

Chủ thể kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và những lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn trình bày:

Vào tháng 7, 8/2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 Chi nhánh V1 (sau đây gọi là Ngân hàng P1) ký các Hợp đồng tín dụng cho Công ty Cổ phần V2 (sau đây gọi là Công ty V2) vay tổng số tiền 3.950.000.000 đồng (ba tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể như sau:

Hợp đồng 1:

Ngày 27/7/2018, Công ty V2 có ký kết hợp đồng tín dụng 9810B/2018/CNE/HĐTD và ngày 15/8/2018 ký Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 9810B/2018/CNF/PLHĐTD với Ngân hàng P1 vay số tiền 1.400.000.000 đồng: Mục đích vay: mua cần trục bánh lốp nhãn hiệu Zoomlion, I, thời hạn vay 48 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên ghi trong giấy nhận nợ với bên cho vay, lãi suất vay là 11,6%/năm. Từ nội dung hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng P1 đã giải ngân đủ số tiền cho ngân cho Công ty V2 (theo Giấy nhận nợ số 9810B/2018/CNF/KUNN ngày 15/8/2018).

Hợp đồng 2:

Ngày 10/6/2019 Ngân hàng P1 và Công ty V2 đã kí kết hợp đồng tín dụng số 093/2012/HĐTD-OCB-DN vay số tiền 2.600.000.000 đồng, mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh hoạt động cho thuê máy công trình. Ngân hàng P1 đã giải ngân cho Công ty V2 lần 1 số tiền 1.150.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 17/3/2020, giải ngân lần 2 số tiền 1.400.000.000 đồng theo giấy nhận nợ ngày 22/5/2020. Công ty V2 đã nhận đủ số tiền vay theo

hợp đồng nói trên. Tổng số tiền Ngân hàng P1 đã giải ngân cho Công ty V2 là 3.950.000.000 đồng.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay theo 02 hợp đồng trên gồm:

  • - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Lê Quý M và bà Võ Thị V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 111600, vào Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 05314 QSDĐ/ SỐ 161 QĐ/UB (TP) 2003 do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp ngày 06/08/2003 đứng tên ông Lê Quý M và bà Võ Thị V. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biên kiểm soát 37LA-0268 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 00842/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 29/07/2015. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2020 và đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0262 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 01189/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 13/05/2019. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/06/2019 và đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện các hợp đồng, Công ty V2 đã thanh toán cho Ngân hàng P1 tổng số tiền cho cả hai hợp đồng cả gốc và lãi là 2.012.005.839 đồng (trong đó hợp đồng 1 trả gốc là 817.800.000 đồng, hợp đồng 2 trả gốc là 666.228.015 đồng). Sau đó Công ty V2 không thực hiện đúng cam kết trả nợ theo hợp đồng đã ký. Đến thời điểm hiện nay Công ty V2 còn nợ Ngân hàng P1 tổng số tiền cả gốc và lãi của cả 02 hợp đồng là: 2.696.559.790 đồng (trong đó: nợ gốc: 2.465.971.985 đồng, lãi trong hạn: 42.234.902 đồng, lãi quá hạn 188.352.903 đồng). Ngân hàng P1 đã nhiều lần mời Công ty V2 cùng bên bảo lãnh, bảo đảm

đến làm việc yêu cầu thanh toán nợ nhưng đến nay Công ty V2 và bên bảo lãnh, bảo đảm vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng P1.

Vì vậy, Ngân hàng P1 yêu cầu Công ty V2 thanh toán số tiền cả hai hợp đồng tính đến ngày 04/10/2021 cho Ngân hàng P1 là 2.696.559.790đ (nợ gốc: 2.465.971.9858, lãi trong hạn: 42.234.902đ, lãi quá hạn 188.352.903đ). Trường hợp Công ty V2 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ, bên bảo lãnh, bảo đảm không thực hiện trả thay thì Ngân hàng P1 đề nghị phát mại tài sản đảm bảo nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng P2. Nếu giá trị tài sản phát mại không đủ thanh toán nợ thì Công ty V2 tiếp tục có nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc, nợ lãi và phí phát sinh cho Ngân hàng P1 cho đến khi thanh toán xong nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện Công ty V2 trình bày:

Công ty V2 là khách hàng thân thiết và lâu năm của Ngân hàng P1, trong quá trình làm ăn Công ty V2 đã nhiều lần vay nợ Ngân hàng P1 và trả nợ đầy đủ đúng hạn. Vào năm 2018, 2019, Công ty V2 đã ký kết 02 hợp đồng tín dụng vay tổng số tiền gần 4.000.000.000đ, mục đích là để mua xe cần trục và bổ sung vốn kinh doanh, về lãi suất và thời gian đã được ghi cụ thể trong hợp đồng và đúng như đại diện Ngân hàng trình bày, ngân hàng đã giải ngân cho Công ty số tiền đã vay thể hiện tại các khế ước nhận nợ. Tài sản đảm bảo cho khoản vay của 02 hợp đồng nói trên là:

  • - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại khối A, Phường T, Thành phố V, Tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Lê Quý M và bà Võ Thị V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 111600, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 05314 QSDĐ/ Số 161 QĐ/UB (TP) 2003 do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp ngày 06/08/2003 đứng tên ông Lê Quý M và bà Võ Thị V. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/01/2018 và đã được đăng ký thế chấp.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0268 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 00842/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 29/07/2015. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2020 và đã được đăng ký thế chấp.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0262 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 01189/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 13/05/2019. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp Xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/06/2019 và đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì phía Công ty V2 đã thanh toán được một khoản tiền gốc và lãi khoảng hơn 2.500.000.000₫ ( không nhớ cụ thể), nhưng sau đó do dịch C -19 nên việc làm ăn gặp khó khăn nên đã không thanh toán tiền gốc, lãi đúng hạn cho Ngân hàng P1, và sau này thì không còn khả năng để trả nợ. Nay ngân hàng P1 yêu cầu Công ty V2 trả nợ, tổng gốc là 2.465.971.985đ và nợ lãi tôi không có ý kiến gì, tôi đã cố gắng để xử lý tài sản cá nhân để trả nợ cho Ngân hàng nhưng do dịch bệnh khó khăn không làm ăn được, không thể xử lý khoản nợ của Ngân hàng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V trình bày:

Vợ chồng tôi có cho ông Đ là giám đốc Công ty V2 mượn bìa đất của gia đình tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An để vay số tiền 1,4 tỷ ở Ngân hàng P1. Chúng tôi có ký kết hợp đồng thế chấp để cho Công ty V2 vay vốn làm ăn, nay phía Công ty V2 gặp khó khăn, Ngân hàng yêu cầu trả nợ thì đề nghị Công ty V2 trả nợ cho Ngân hàng để lấy bìa ra trả cho vợ chồng chúng tôi. Vợ chồng tôi cũng xin đề xuất phương án là góp tiền xin chuộc tài sản là nhà và đất ra nhưng phía Ngân hàng không đồng ý mà yêu cầu phải xử lý toàn bộ khoản vay thì mới giải chấp tài sản. Vì vậy, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết đảm bảo quyền lợi cho chúng tôi.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Lê Quý M vắng mặt nên không có lời khai tại hồ sơ.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2021/KDTM-ST ngày 07/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ A đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng P1; buộc Công ty cổ phần V2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P1 tổng số tiền tính đến ngày 04/10/2021là 2.696.559.790 đồng (hai tỷ, sáu trăm chín mươi sáu triệu, năm trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm chín mươi đồng) trong đó nợ gốc: 2.465.971.985 đồng (hai tỷ, bốn trăm sáu mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn, chín

trăm tám mươi lăm đồng), lãi trong hạn: 42.234.902 đồng (bốn mươi hai triệu, hai trăm ba mươi tư nghìn, chín trăm linh hai đồng), lãi quá hạn 188.352.903 đồng (một trăm tám mươi tám triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, chín trăm linh ba đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý tài sản đảm bảo, án phí, nghĩa vụ thi hành án dân sự, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/10/2021, Ngân hàng P1 kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 26/2021/KDTM-ST ngày 07/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc Công ty cổ phần V2 trả toàn bộ số nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký. Trường hợp Công ty V2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng P1 có quyền yêu cầu phát mãi, kê biên xử lý tài sản đảm bảo đã thế chấp theo các hợp đồng thế chấp đã ký để thu hồi nợ.

Ngày 04/11/2021, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 26/2021/KDTM-ST ngày 07/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, với nội dung: Đề nghị buộc Công ty V2 phải trả nợ cho Ngân hàng P1 và Ngân hàng P1 phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà.

Ngày 01/11/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 26/2021/KDTM-ST ngày 07/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm: Không quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; quyết định số tiền lãi đối với việc xử lý tài sản thế chấp chưa đầy đủ; quyết định về xử lý tài sản thế chấp chưa đầy đủ; Quyết định về lãi suất chậm trả không đúng quy định tại Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐ TP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; không thu thập, không đánh giá tài liệu về lãi suất mà chấp nhận yêu cầu tính lãi do Ngân hàng cung cấp là chưa có căn cứ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa bản án sơ thẩm đối với những vi phạm trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm; Bị đơn đề nghị phía nguyên đơn cho thêm thời gian để trả nợ.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng:

Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục tại phiên tòa.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự:

Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70,71, 72, 73 và Điều 248. Bộ luật tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được đảm bảo.

Thủ tục kháng cáo:

nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm giải quyết vụ án:

đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS sửa án sơ thẩm, giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng P1; không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên xác định kháng cáo hợp lệ.

[1.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm. Ngày 27/10/2011, Tòa án nhân dân thành phố Vinh tống đạt Bản án số 26/2021/KDTM-ST ngày 7/10/2021 cho bà V. Ngày 4/11/2021, bà V làm đơn kháng cáo, đồng thời có đơn xin miễn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm do bà V là người cao tuổi và gửi cho Tòa án. Đơn kháng cáo của bà V được làm trong thời hạn quy định của pháp luật. Ngày 11/11/2021 Tòa án nhân dân thành phố Vinh có

thông báo miễn nộp tiền tạm ứng án phí đối với bà V, nên xác định kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét kháng cáo của Ngân hàng P1:

Ngân hàng P1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc Công ty V2 trả toàn bộ số nợ phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng số 9810B/2018/CNF/HĐTD ngày 27/7/2018 và Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 9810B/2018/CNF/PLHĐTD ngày 15/8/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0093/2019/HĐTD-OCB-DN ngày 10/6/2019 và các khế ước nhận nợ đã được ký kết với Ngân hàng P1. Trường hợp Công ty V2 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng P1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế, kê biên phát mại, xử lý toàn bộ tài sản đảm bảo đã thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp quy ền sử d ụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2020 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/6/2019 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng P1.

Các Hợp đồng tín dụng số 9810B/2018/CNF/HĐTD ngày 27/7/2018; Hợp đồng sửa đổi bổ sung số 9810B/2018/CNF/PLHĐTD ngày 15/8/2018 và Hợp đồng tín dụng số 0093/2019/HĐTD-OCB-DN ngày 10/6/2019 được ký kết giữa Ngân hàng P1 và Công ty V2 là hoàn toàn tự nguyện, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều có năng lực hành vi dân sự; nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức của hợp đồng. Do đó hợp đồng giữa các bên đã ký kết là hợp pháp, có hiệu lực và được pháp luật bảo vệ.

Các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 giữa ông Lê Quý M - Võ Thị V với Ngân hàng P1; Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2020 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/6/2019 giữa Ngân hàng P1 và Công ty V2 được ký kết trên cơ sở tự nguyện, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều có năng lực hành vi dân sự. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội; các tài sản thế chấp đều đã được đăng ký giao dịch bảo đảm

theo quy định và đã được Văn phòng C1 chứng nhận. Như vậy các hợp đồng thế chấp nêu trên là có hiệu lực. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty V2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu trả nợ của Ngân hàng P1 là có cơ sở.

Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Xét thấy, tại khoản 1 Điều 1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; xác định: “Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình nêu tại Điều 2 Hợp đồng này để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn đối với OCB bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ (nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phải trả, chi phí xử lý tài sản thế chấp và các khoản phí, chi phí khác) theo: a. HĐTD số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và 9810B/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và các HĐTD, HĐ cấp bảo lãnh, các hợp đồng/văn bản thỏa thuận cấp tín dụng khác ký giữa bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn với OCB trong khoảng thời gian từ ngày 27/7/2018 đến 27/7/2023; b. Tất cả cam kết tín dụng khác và mọi nghĩa vụ tài chính của Bên thế chấp và/ hoặc bên vay vốn phát sinh tại OСВ‘“

- Tại khoản 1 Điều 1 Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; HĐ sửa đổi bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2028 và HĐ thế chấp xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/6/2019 xác định: “Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn đối với OCB bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ (nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phải trả, chi phí xử lý tài sản thế cháp và các khoản phí, chi phí khác) theo: a. HĐTD số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và 9810B/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và các HĐTD, HĐ cấp bảo lãnh, các hợp đồng/văn bản thỏa thuận cấp tín dụng khác ký giữa bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn với OCB trong khoảng thời gian từ ngày 27/7/2018 đến 27/7/2023; HĐTD số 0093/2019/HĐTD-OCB-DN ngày 10/06/2019 và các HĐTD, HĐ cấp bảo lãnh, các hợp đồng/văn bản thỏa thuận cấp tín dụng khác ký giữa bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn với OCB trong khoảng thời gian từ ngày 10/6/2019 đến 10/6/2024; b. Tất cả cam kết tín dụng khác và mọi nghĩa vụ tài chính của Bên thế chấp và/ hoặc bên vay vốn phát sinh tại OСВ”.

Căn cứ các điều khoản được trích dẫn tại các Hợp đồng thế chấp nêu trên, thì các bên đều thống nhất các tài sản thế chấp gồm: thửa đất số 14, tờ bản đồ số

27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; 01 xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0268 và 01 xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0262 đều đảm bảo cho tất cả các nghĩa vụ trả nợ vay cho O.

Mặt khác, tại khoản 3 Điều 4 Hợp đồng tín dụng số 9810B/2018/CNF/HĐTD ngày 27/7/2018 và khoản 3 Điều 6 Hợp đồng tín dụng số 0093/2019/HĐTD-OCB-DN ngày 10/6/2019 giữa Ngân hàng P1 và Công ty V2, thỏa thuận nội dung: “OCB có quyền lựa chọn bất kỳ biện pháp bảo đảm nào và bất kỳ tài sản bảo đảm nào để bảo đảm cho mỗi lần cấp tín dụng cũng như để xử lý tài sản nhằm thu hồi nợ (không phân biệt giá trị tài sản, thời gian đưa vào bảo đảm và thời gian đến hạn trả nợ)”. Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 1 của các Hợp đồng thế chấp nhà đất và thế chấp xe ô tô cũng nêu rõ: “...Giá trị định giá chỉ là cơ sở để OCB xác định mức dư nợ cấp tín dụng mà không áp dụng trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ...”.

Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và tách nghĩa vụ bảo đảm của từng tài sản thế chấp là không đúng thoản thuận của các bên theo các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp đã được ký kết, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng P1. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn ngân hàng P1 là có cơ sở, cần chấp nhận.

[2.2] Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V:

Tại đơn kháng cáo đề ngày 04/11/2021, bà Võ Thị V trình bày: Đối với việc Tòa án buộc công ty V2 phải trả nợ cho Ngân hàng P1 bà không có ý kiến gì. Nhưng nếu công ty V2 không trả nợ thì xử lý tài sản thế chấp là nhà và đất của vợ chồng bà tại thửa thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An để trả nợ cho Ngân hàng thì bà không đồng ý. Bà yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Buộc Công ty V2 phải trả nợ cho Ngân hàng và Ngân hàng phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà.

Xét thấy: Vào tháng 7, 8/2018, Ngân hàng P1 và Công ty V2 đã ký các Hợp đồng tín dụng, theo đó Ngân hàng P1 cho Công ty V2 vay tổng số tiền 3.950.000.000 đồng (ba tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng). Tài sản đảm bảo cho khoản vay theo hai hợp đồng trên có quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 14, tờ

số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Lê Quý M và bà Võ Thị V theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 111600. Tài sản bảo đảm đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/01/2018 và đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Các bên ký kết hợp đồng thế chấp trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, hợp đồng có nội dung và hình thức phù hợp với các Điều 317, 318, 319 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 144, 145 Luật nhà ở năm 2014 được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảm đảm và các quy định của pháp luật có liên quan, nên phát sinh hiệu lực.

Tại khoản 1 Điều 1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 xác định: “Bên thế chấp đồng ý thế chấp tài sản của mình nêu tại Điều 2 Hợp đồng này để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn đối với OCB bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ (nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các khoản phải trả, chi phí xử lý tài sản thế chấp và các khoản phí, chi phí khác) theo: a. HĐTD số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và 9810B/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 và các HĐTD, HĐ cấp bảo lãnh, các hợp đồng/văn bản thỏa thuận cấp tín dụng khác ký giữa bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn với OCB trong khoảng thời gian từ ngày 27/7/2018 đến 27/7/2023; b. Tất cả cam kết tín dụng khác và mọi nghĩa vụ tài chính của Bên thế chấp và/ hoặc bên vay vốn phát sinh tại OCB‘“

Tại điểm a khoản 1 Điều 4 Hợp đồng thế chấp số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018 có nội dung: “1. OCB được toàn quyền xử lý tài sản thế chấp trong các trường hợp dưới đây: a. Khi đến hạn trả nợ (kể cả trường hợp phải trả nợ trước hạn) theo HĐTD mà bên thế chấp và/hoặc bên vay vốn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”. Như vậy, căn cứ Hợp đồng thế chấp số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018, trong trường hợp Công ty V2 không trả hoặc không trả đủ số nợ theo các Hợp đồng tín dụng đã ký thì Ngân hàng P1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng P1 trong trường hợp nếu Công ty V2 không trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ

số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu quyền sử dụng của ông Lê Quý M và bà Võ Thị V để thu hồi nợ là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V về việc không đồng ý xử lý tài sản thế chấp.

[2.3] Xét các nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:

Về việc Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập, không đánh giá tài liệu về lãi suất mà chấp nhận yêu cầu số liệu tính lãi của Ngân hàng cung cấp:

Căn cứ các Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng P1 và Công ty V2, thì “Lãi suất cấp tín dụng được điều chỉnh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cụ thể, và tại các khế ước nhận nợ, được điều chỉnh định kỳ 06 tháng/lần.... OCB được quyền điều chỉnh, thay đổi kỳ điều chỉnh lãi suất, lãi suất cơ sở, biên độ lãi suất và/hoặc phương thức xác định lãi suất cho vay phải tuân thủ và chịu sự điều chỉnh theo thông báo lãi suất của O tại từng thời kỳ”. Tòa án cấp sơ thẩm không yêu cầu Ngân hàng cung cấp các quyết định điều chỉnh lãi suất từng thời điểm mà chấp nhận số tiền lãi trong hạn và số tiền lãi quá hạn theo 01 bảng chung về số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm do Ngân hàng P1 cung cấp. Tuy nhiên phía bị đơn hoàn toàn thống nhất và không có ý kiến gì khác đối với yêu cầu về tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn của ngân hàng P1. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày: hàng tháng phía ngân hàng đều có thông báo về khoản nợ, lãi đến Công ty V2; việc điều chỉnh lãi căn cứ trên điều chỉnh lãi suất của ngân hàng N và phía công ty V2 đều thống nhất, không có ý kiến gì. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã có văn bản yêu cầu và Ngân hàng P1 đã cung cấp tài liệu về lãi suất, thông báo điều chỉnh lãi suất theo yêu cầu của Tòa án. Phía bị đơn thống nhất với các khoản lãi mà phía nguyên đơn diễn giải và yêu cầu.

Về việc không quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn trình bày nội dung: các chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do nguyên đơn nộp theo yêu cầu của Tòa án, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không yêu cầu tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết chi phí này và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu. Xét thấy, việc nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không yêu cầu Tòa án xem xét, không trái quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nội dung cấp sơ thẩm quyết định xử lý tài sản thế chấp, quyết định số tiền lãi đối với việc xử lý tài sản thế chấp chưa đầy đủ, quyết định về lãi suất chậm trả chưa đúng:

Trên cơ sở nhận định tại mục [2.1] về căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng P1 và các nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng quy định, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, khắc phục các vi phạm của cấp sơ thẩm. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm:

[4.1] Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận, do đó nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4.2] Kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị V không được chấp nhận, bà Võ Thị V phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà V là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị V, chấp nhận kháng cáo của ngân hàng P1, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, sửa bản án sơ thẩm.

1. Căn cứ các Điều 463,465, 466,468 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2011; Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; điều 3 Nghị Định 83/2010/NĐ – CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P1.

Buộc Công ty Cổ phần V2 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 tính đến ngày 04/10/2021 số tiền theo Hợp đồng tín dụng 9810B/2018/CNF/HĐTD ngày 27/7/2018, Hợp đồng sửa đổi bổ sung số

9810B/2018/CNF/PLHĐTD ngày 15/8/2018 nợ gốc là 582.200.000 đồng (năm trăm tám mươi hai triệu, hai trăm nghìn đồng), nợ lãi trong hạn 42.234.902 đồng (bốn mươi hai triệu, hai trăm ba mươi tư nghìn, chín trăm linh hai đồng), nợ lãi quá hạn 20.232.038 đồng (hai mươi triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn, không trăm ba mươi tám nghìn đồng); và Hợp đồng tín dụng số 093/2019/HĐTD-OCB-DN ngày 10/6/2019 nợ gốc là 1.883.771.985 đồng (một tỷ, tám trăm tám mươi ba triệu, bảy trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi lăm đồng), nợ lãi trong hạn 0 đồng, nợ lãi quá hạn 168.120.865 đồng (một trăm sáu mươi tám triệu, một trăm hai mươi nghìn, tám trăm sáu mươi lăm đồng). Tổng số tiền Công ty Cổ phần V2 phải trả cho cả hai hợp đồng là 2.696.559.790 đồng (hai tỷ, sáu trăm chín mươi sáu triệu, năm trăm năm mươi chín nghìn, bảy trăm chín mươi đồng) trong đó nợ gốc: 2.465.971.985đ (hai tỷ, bốn trăm sáu mươi lăm triệu, chín trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi lăm đồng), lãi trong hạn: 42.234.902đ (bốn mươi hai triệu, hai trăm ba mươi tư nghìn, chín trăm linh hai đồng), lãi quá hạn 188.352.903đ (một trăm tám mươi tám triệu, ba trăm năm mươi hai nghìn, chín trăm linh ba đồng).

Nếu Công ty Cổ phần V2 không trả hoặc không trả đủ số nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 theo các Hợp đồng tín dụng đã ký thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản thế chấp theo các Hợp đồng thế chấp số 9810/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng thế chấp xe máy chuyên dùng số 9810A/2018/CNF/HĐTC ngày 27/07/2018; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 9810A.01/2018/CNF/PL-BĐ ngày 29/06/2020 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0097/2019/BĐ ngày 10/6/2019 để thu hồi nợ, bao gồm các tài sản sau:

  • - Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 27, địa chỉ tại khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Lê Quý M và bà Võ Thị V, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 111600, vào Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 05314 QSDĐ/ SỐ 161 QĐ/UB (TP) 2003 do Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An cấp ngày 06/08/2003.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0268 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 00842/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 29/07/2015.
  • - Một xe máy chuyên dùng cần trục bánh lốp Biển kiểm soát 37LA-0262 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của Công ty Cổ phần V2 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 01189/XMCD do Sở Giao thông Vận tải tỉnh N đăng ký ngày 13/05/2019.

Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản không đủ thanh toán hết các khoản nợ nêu trên thì Công ty Cổ phần V2 có nghĩa vụ tiếp tục trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P1.

Trường hợp Công ty cổ phần V2 thanh toán hết các khoản nợ nói trên mà không phải xử lý các tài sản thế chấp, Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho Bên thế chấp theo nội dung cam kết tại các hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (05/10/2021) cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần V2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với việc điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Án phí:

  1. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P1 2.000.000 đồng (hai triệu) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo biên lai số 0009660 ngày 10/11/2021.
  2. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Võ Thị V.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

Các đương sự;

VKSND tỉnh Nghệ An;

Chi cục THADS thành phố Vinh;

TAND thành phố Vinh;

Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2022/KDTM-PT ngày 15/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 08/2022/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2022
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tin dụng, Ngân hàng OCB - Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger