|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH T Bản án số: 08/2022/HS-ST Ngày 16/02/2022 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH T
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị T
Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị L và Ông Lê Văn S.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị H, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn P - Kiểm sát viên.
Ngày 16/02/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh T, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 28/01/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐXXST-HS ngày 04/02/2022 đối với bị cáo:
Giàng A S; Sinh năm 1994. Quê quán: Huyện B, tỉnh L. Nơi cư trú: Bản K, xã T, huyện M, tỉnh T. Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: Không biết chữ. Con ông: Giàng A Đ, sinh năm: 1956. Con bà: Giàng Thị D, đã chết. Vợ: Hờ Thị C, sinh năm: 1993. Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2010; nhỏ nhất sinh năm 2017. Vợ và các con của bị cáo đều cư trú tại bản K, xã T, huyện M, tỉnh T.
Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn Kh - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 28/7/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B1-50813 từ nhà lên bản K, xã T để đổ xăng xe máy nhưng không tìm được quán bán xăng, bị cáo điều khiển xe theo quốc lộ 15C xuống xã H, huyện Q, tỉnh T để đổ xăng. Trên đường đi thuộc bản K, xã T, huyện M, bị cáo gặp một bé trai khoảng 14 tuổi đang đứng bên đường chào bán một cá thể động vật còn sống, hình dạng loài rùa, có đặc điểm mai cứng nhô cao, trên mai có các nếp vằn, xen kẽ giữa lưng dài sọc màu vàng nhạt, đầu có màu vàng với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Bị cáo biết đây là loài rùa Hộp trán vàng và đồng ý mua với mục đích mang về làm thức ăn cho gia đình và mai rùa làm thuốc chữa bệnh. Sau đó bị cáo để cá thể động vật vào trong cốp xe và tiếp tục đi về hướng xã H, huyện Q, tỉnh T. Khi đến gần Trạm kiểm lâm Pá Quăn, xã T, huyện M, tỉnh T thì bị Tổ công tác Cảnh sát giao thông, Công an huyện M kiểm tra phát hiện và thu giữ trong cốp xe, cá thể động vật còn sống, hình dạng loài rùa. Nghi vấn thuộc loài động vật nguy cấp, quý, hiếm nên tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, chuyển toàn bộ hồ sơ cùng tang vật cho Cơ quan CSĐT Công an huyện M tiến hành kiểm tra, xác minh.
Ngoài ra còn bị tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 36B1-50813, nhãn hiệu: HONDA, loại xe Wave RSX, màu Đen trắng, số máy: 43E6236383, số khung: BY301178, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định động vật số: 741/STTNSV, ngày 08/9/2021 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận:
Tên loài: Ảnh chụp 01 (một) cá thể động vật là của loài Rùa hộp trán vàng (hay còn gọi là Rùa hộp trán vàng miền Bắc) thuộc lớp Bò sát, có tên khoa học là Cuora galbinifrons.
Tình trạng bảo tồn:
- Loài Rùa hộp trán vàng miền bắc (Rùa hộp trán vàng) Cuora galbinifrons có tên trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
- Rùa hộp trán vàng miền bắc Cuora galbinifrons cũng thuộc Nhóm IIB trong Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ.
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số: 11/CT-VKS-ML ngày 27/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; Tòa án nhân dân huyện M, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, trợ giúp viên pháp lý là người bào chữa cho bị cáo và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và chứng cứ khác trong hồ sơ, đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo tàng trữ “Một cá thể động vật còn sống, hình dạng loài rùa, qua giám định là của loài Rùa hộp trán vàng (hay còn gọi là Rùa hộp trán vàng miền Bắc) thuộc lớp Bò sát, có tên khoa học là Cuora galbinifrons có tên trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm” được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật, đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội do lạc hậu, trình độ học vấn thấp, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. HĐXX chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Xét về hình phạt: Thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp, không cần cách ly bị cáo cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa chung. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
[5] Xét về vật chứng: Một cá thể rùa đã được bàn giao cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu để thả về môi trường tự nhiên nên HĐXX không xem xét. Trả lại xe mô tô cho bị cáo vì là tài sản hợp pháp.
[6] Xét về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST.
QUYẾT ĐỊNH
Về điều luật: Căn cứ Điểm b khoản 1 Điều 244; Điều 50; Điều 65; Điểm m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 BLHS; Căn cứ Khoản 2 Điều 106; Điều 135, Điều 136 BLTTHS; Điều 260; Điều 331, Điều 333 và Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14.
Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Giàng A S phạm tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xử bị cáo: 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục.
- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về tang vật: Trả lại cho bị cáo xe mô tô biển kiểm soát 36B1-50813, nhãn hiệu: HONDA, loại xe Wave RSX.
Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí HSST.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Ngô Thị T |
Bản án số 08/2022/HS-ST ngày 16/02/2022 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh T về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Số bản án: 08/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/02/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện M, tỉnh T
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại điểm b khoản 1 điều 244 BLHS
