|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 08/2022/DS-PT Ngày 06 – 01 – 2022 V/v tranh chấp hụi |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung, Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 185/2021/TLPT-DS ngày 25 tháng 6 năm 2021 về việc: Tranh chấp hụi.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 130/2021/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 161/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Nguyễn Bé B, sinh năm 1966 (Có mặt);
- Ông Ngô Quốc K, sinh năm 1963 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh C ..
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Ngô Quốc K: Bà Nguyễn Bé B (Văn bản ủy quyền ngày 22 tháng 10 năm 2020).
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị T1, sinh năm 1974 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh C ..
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà T1: Ông Đoàn Việt T2, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Số 74, Ngô G, khóm 8, phường 5, thành phố C, tỉnh C . (Văn bản ủy quyền ngày 03 tháng 12 năm 2020), (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đoàn Việt T2, là người đại diện hợp pháp của bà Đoàn Thị T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo bà Nguyễn Bé B trình bày:
Vào năm 2016, bà Đoàn Thị T1 có tham gia nhiều dây hụi ngày, loại hụi 10.000 đồng, do bà làm chủ hụi. Bà T1 đã hốt hụi hết nhưng không đóng hụi đầy đủ, còn nợ bà số tiền 492.000.000 đồng. Đến ngày 11/9/2017, bà T1 mới ký tên vào biên nhận thừa nhận còn nợ bà số tiền nêu trên. Sau đó, bà T1 tiếp tục tham gia hụi ngày, loại hụi 10.000 đồng, mở vào ngày 19/3/2020 (âm lịch), gồm 128 chưng, bà T1 tham gia 10 chưng, bà T1 đã hốt hụi hết; bà đã giao hụi đầy đủ cho bà T1, nhưng bà T1 chưa đóng hụi chết mà còn nợ lại số tiền của dây hụi này là 9.410.000 đồng. Ngoài ra, bà T1 còn tham gia dây hụi 2.000.000 đồng, mở vào ngày 25/5/2019 (âm lịch), mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 25 chưng, bà T1 tham gia 01 chưng. Bà T1 đã hốt hụi nhưng đóng hụi chết không đầy đủ và còn nợ đến tháng 7/2019 (âm lịch) 05 lần hụi chết chưa đóng với số tiền 10.000.000 đồng, dây hụi này còn 14 lần hụi nữa mãn. Bà T1 có trả dần số tiền nợ hụi trên, thỏa thuận mỗi tháng bà T1 trả cho bà 4.000.000 đồng vào ngày 20 hàng tháng và bắt đầu trả từ ngày 20/11/2016 đến ngày 20/5/2019, từng lần trả tiền bà đều có ghi ngày tháng năm trả và trả số tiền 4.000.000 đồng, bà T1 có ký tên T1 vào mỗi lần trả. Tổng cộng bà T1 trả được 32 lần được số tiền 128.000.000 đồng, cộng với số tiền hụi của dây hụi 2.000.000 đồng bà T1 tham gia của bà nhưng do bà đình hụi không giao số tiền hụi bà T1 đã đóng mà trừ qua số tiền bà T1 còn nợ bà nên đến ngày 29/10/2019 thì giữa bà với bà T1 có tổng hợp lại bà T1 có trả được 190.000.000 đồng nhưng bà đã ghi nhầm thành số tiền 19.000.000 đồng và có ký tên đưa cho bà T1 giữ. Tại biên bản về việc thỏa thuận thi hành án ngày 26/10/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau do Chấp hành viên ông Phạm Trung Dũng lập bà có tham gia và có xác định bà T1 chỉ còn nợ bà số tiền là 54.000.000 đồng do lúc đó bà là người phải thi hành án theo Bản án số 69/2017/DS-PT ngày 11/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau buộc bà và ông K phải trả cho bà Nguyễn Bé Ly với số tiền nợ hơn 300.000.000 đồng, nên giữa bà với bà T1 có thỏa thuận là chỉ khai bà T1 còn nợ bà số tiền 54.000.000 đồng; vì nếu khai đúng số nợ bà T1 còn nợ bà thì bà sẽ không nhận được tiền từ bà T1. Thực tế, số tiền hụi bà T1 nợ bà 511.410.000 đồng, đối trừ số tiền bà T1 trả tính đến ngày 29/10/2019 là 205.000.000 đồng, còn nợ 306.410.000 đồng. Do đó, bà B và ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 trả cho bà và ông K số tiền hụi còn nợ là 306.410.000 đồng.
- Theo ông Đoàn Việt T2 trình bày:
Bà T1 thừa nhận vào năm 2016 có tham gia nhiều dây hụi ngày do bà B làm chủ hụi và còn nợ bà B số tiền hụi là 492.000.000 đồng đúng như biên nhận ngày 11/9/2017 mà bà B đã cung cấp cho Tòa án. Nhưng sau khi ký biên nhận thì đến ngày 26/10/2017 có biên bản về việc thỏa thuận thi hành án có mặt bà B, bà T1, bà Nguyễn Bé Ly, bà Võ Thị Như Anh, tất cả các khoản nợ giữa bà T1 và bà B giao dịch thì bà T1 đã trả và chỉ còn nợ lại bà B số tiền 54.000.000 đồng và hoàn toàn không có việc giữa bà T1 và bà B thỏa thuận chỉ khai phần nợ bà T1 còn nợ bà B chỉ có 54.000.000 đồng như bà B trình bày. Mặc dù khoản nợ bà T1 nợ bà B chỉ còn 54.000.000 đồng nhưng bà T1 không yêu cầu bà B trả lại biên nhận nợ cho bà T1 do lúc đó bà T1 chưa trả đủ tiền cho B, khi nào bà T1 trả đủ tiền sẽ yêu cầu bà B trả lại biên nhận. Đối với dây hụi 10.000 đồng, hụi mở vào ngày 19/3/2020 (âm lịch), bà T1 còn nợ lại bà B số tiền là 9.410.000 đồng. Dây hụi 2.000.000 đồng, mở vào ngày 25/5/2019 (âm lịch) bà T1 còn nợ lại bà B số tiền hụi chết tính đến tháng 7/2019 (âm lịch) với số tiền 10.000.000 đồng đúng như bà B trình bày. Sau đó, ngày 29/10/2019 bà T1 có trả cho bà B 02 lần, 01 lần được 19.000.000 đồng, 01 lần trả 10.000.000 đồng. Tổng cộng trả được 29.000.000 đồng và có làm giấy tay do bà B ký tên giao cho bà T1 giữ. Những tờ giấy tập học sinh do bà B cung cấp bắt đầu từ ngày 20/11/2016 đến ngày 20/5/2019, hàng tháng đều có ghi số tiền 4.000.000 đồng và bà T1 có ký tên “Thắm” nhưng đây là danh sách bà T1 ký tên để bà B theo dõi việc bà T1 trả nợ chứ thực tế bà T1 không có trả tiền cho bà B. Như vậy, tổng cộng bà T1 còn nợ bà B số tiền hụi là 73.410.000 đồng, đối trừ số tiền 29.000.000 đồng đã trả thì bà T1 còn nợ bà B số tiền 44.410.000 đồng. Bà T1 chỉ chấp nhận trả cho bà B và ông K số tiền hụi còn nợ là 44.410.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 130/2021/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé B và ông Ngô Quốc K. Buộc bà Đoàn Thị T1 trả cho bà B và ông K số tiền hụi còn nợ là 306.410.000 đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí, và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/5/2021, ông Đoàn Việt T2 người đại diện theo ủy quyền bà Đoàn Thị T1 có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc bà T1 trả cho bà B và ông K số tiền 44.410.000 đồng. Bà T1 đồng ý với việc ông T2 kháng cáo thay bà và nội dung yêu cầu kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Đoàn Việt T2, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Bà Nguyễn Bé B và ông Ngô Quốc K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đoàn Thị T1 trả số tiền hụi còn nợ là 306.410.000 đồng; bà T1 cho rằng bà T1 chỉ còn nợ bà B và ông K số tiền 44.410.000 đồng nên chỉ chấp nhận trả cho Bé B và ông K số tiền hụi còn nợ là 44.410.000 đồng.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, bà B không cung cấp được giấy tờ giao dịch hụi giữa bà với bà T1, nhưng các đương sự đều thừa nhận có tham gia hụi với nhau. Người đại diện của bị đơn cũng thừa nhận vào năm 2016 bà T1 có tham gia nhiều dây hụi ngày, loại hụi 10.000 đồng do bà B và ông K làm chủ và bà T1 còn nợ bà B và ông K số tiền hụi là 492.000.000 đồng, có ký giấy biên nhận nợ ngày 11/9/2017.
[3] Người đại diện của bị đơn cho rằng từ khi ký biên nhận nợ ngày 11/9/2017 đến ngày 26/10/2017 có biên bản về việc thỏa thuận thi hành án tại Ủy ban nhân dân xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, bà T1 đã thanh toán cho bà B số tiền 438.000.000 đồng, chỉ còn nợ 54.000.000 đồng. Bé B cho rằng vì lúc đó bà phải thi hành án cho bà Nguyễn Bé Ly số tiền hơn 300.000.000 đồng, nếu khai đúng số nợ bà T1 còn nợ thì bà sẽ không nhận được tiền từ bà T1, chứ thời điểm đó bà T1 vẫn còn nợ số tiền 492.000.000 đồng chưa thanh toán.
[11] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Đoàn Việt T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Việt T2.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 130/2021/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé B và ông Ngô Quốc K.
Buộc bà Đoàn Thị T1 trả cho bà Nguyễn Bé B và ông Ngô Quốc K số tiền 306.410.000 đồng.
Kể từ ngày bà B và ông K có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên thì hàng tháng bà T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm bà Đoàn Thị T1 phải chịu số tiền 15.320.500 đồng. Án phí dân sự phúc thẩm bà Đoàn Thị T1 phải chịu số tiền 300.000 đồng. Ngày 31/5/2021 bà T1 đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012405 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được đối trừ chuyển thu án phí.
|
Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Phú Tân; - Chi cục THADS huyện Phú Tân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lập |
Bản án số 08/2022/DS-PT ngày 06/01/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 08/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/01/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà B và ông K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T1 trả cho bà và ông K số tiền hụi còn nợ là 306.410.000 đồng
