Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI


Bản án số: 08/2021/HS-ST
Ngày 12 - 4 - 2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Hòa

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Hồng Sơn;
  • Ông Huỳnh Cao Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 12 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2021/TLST - HS ngày 03 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 03 năm 2021, đối với:

- Bị cáo: NGUYỄN VĂN T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/10/1960 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: Khối phố Xuân B, phường Trường X, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Xe ôm; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (chết) và bà Huỳnh Thị Q (chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1964), có 02 con, lớn nhất 32 tuổi, nhỏ nhất 28 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân bị cáo: Năm 1977, bị Ty Công an Nghĩa Bình bắt tập trung giáo dục 15 tháng tù về tội sử dụng giấy tờ giả mạo. Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử sơ thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 57/2000/HSST ngày 24/5/2000 (Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” tại bản án số 33/2001/HSPT ngày 12/01/2001). Tòa án nhân dân huyện Núi Thành tỉnh Quảng Nam xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 05/2008/HSST ngày 29/02/2008. Bị Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 24 tháng tù về “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 18/2010/HSST ngày 04/8/2010 và Bản án số 10/2010/HSPT ngày 27/10/2010. Bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 59/2016/HSST ngày 06/7/2016; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2016. Năm 2017, bị cáo bị Công an huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xử lý vi phạm hành chính, đã chấp hành xong.

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Tư Nghĩa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 12 năm 2020 đến ngày xét xử. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Sao M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Đội 4, Tổ dân phố Vạn M, thị trấn Sông V, huyện Tư N, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Phú H, sinh năm 1988; có mặt. Địa chỉ: Thôn Trà L, xã Bình K, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  2. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1993; vắng mặt. Địa chỉ: Khối phố Xuân B, phường Trường X, thành phố Tam K, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 11/12/2020, bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 92B1 – 240.27 đi vào thị trấn Sông V, huyện Tư N, tỉnh Quảng Ngãi để tìm kiếm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe đi đến tiệm Spa Sao M. Thấy không có người bên trong, bị cáo để xe phía trước và đi bộ vào tiệm. Bị cáo quan sát thấy trên quầy lễ tân có 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng (Gold) (của chị Nguyễn Thị Sao M không có người trông coi. Bị cáo đến quầy lễ tân và dùng tay phải lấy điện thoại di động bỏ vào túi quần phía sau bên phải rồi nhanh chóng ra bên ngoài, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92B1-240.27 tẩu thoát. Sau đó, bị cáo đến cửa hàng mua, bán điện thoại di động Phú H tại thị trấn C, huyện Bình S do anh Nguyễn Phú H làm chủ và bán lại cho anh H điện thoại di động vừa trộm cắp được số tiền 3.400.000đ. Bị cáo rời khỏi cửa hàng khoảng 100m thì bị Cơ quan Công an phát hiện và mời về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tư Nghĩa kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64G, màu vàng (Gold), số IMEI 353103103593310 tại thời điểm bị xâm phạm có giá trị 13.592.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKS- TN ngày 02/3/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định truy tố của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của mình. Hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được qui định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản và đánh bạc nhưng không ăn năn hối cải mà lại tiếp tục phạm tội.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2020.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND huyện Tư Nghĩa;
- Cơ quan CSĐT Công an huyện Tư Nghĩa;
- Cơ quan THAHS Công an huyện Tư Nghĩa;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu: Án văn; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trương Thanh Hòa
Hội thẩm nhân dân


Nguyễn Hồng Sơn      Huỳnh Cao Trung
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa


Trương Thanh Hòa
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2021/HS-ST ngày 12/04/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 08/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo nguyễn văn t phạm tội "trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger