|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 08/2021/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 02 - 2021 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Thật
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Chuyển, Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 678/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2020, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1981;
Nơi cư trú: thôn NS, xã NA, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1980;
Nơi cư trú: thôn NS, xã NA, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2020 cùng các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quốc T tự nguyện kết hôn và đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã NB, thị xã Ninh Hòa năm 2003. Bà T, ông T có hai con chung Nguyễn Trà G, sinh ngày: 31/3/2007 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 23/9/2003. Sau thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2015, vợ chồng bà T xảy ra mâu thuẫn, có nhiều quan điểm sống khác nhau, không quan tâm đến nhau nên mỗi người sống mỗi nơi từ đó cho đến nay. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông T; yêu cầu được nuôi cháu G và cháu M, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc T để giải quyết vụ án nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không xác định được ý kiến của ông T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt là từ bỏ quyền và lợi ích của mình.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Quốc T là bị đơn đã được Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quốc T đủ điều kiện kết hôn và tự nguyện đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã NB, thị xã Ninh Hòa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 05 tháng 3 năm 2003, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông T là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân, bà T và ông T đã phát sinh mâu thuẫn, không quan tâm chăm sóc cho nhau và mỗi người sống mỗi nơi từ đầu năm 2015 đến nay. Bà T xác định không còn tình cảm với ông T và cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T. Quá trình giải quyết vụ án, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhưng đều vắng mặt, chứng tỏ giữa ông T và bà T có mâu thuẫn, ông T không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa, điều này phù hợp với xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã NA “…giữa ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị T thường xảy ra mâu thuẫn…”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của bà T và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T.
[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quốc T có hai con chung là Nguyễn Trà G, sinh ngày: 31/3/2007 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 23/9/2003. Hiện nay, bà T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu. Việc bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G, cháu M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận yêu cầu của bà T. Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 264, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc T.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao hai con chung Nguyễn Trà G, sinh ngày: 31/3/2007 và Nguyễn Trà M, sinh ngày 23/9/2003 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Bà T không yêu cầu ông Nguyễn Quốc T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà T, ông T có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung. - Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0009979 ngày 13/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ.
* Quy định chung: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hánh án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã Ninh Hòa; - Chi cục THADS thị xã Ninh Hòa; - Các đương sự; - UBND xã NB GKH số 13 ngày 05/3/2003; - Lưu hồ sơ; - Lưu vụ án; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Minh Thật |
Bản án số 08/2021/HNGĐ-ST ngày 05/02/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa về ly hôn
- Số bản án: 08/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quốc T mâu thuẫn
