Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH B P

_________________

Bản án số: 08/2021/HNGĐ-PT

Ngày: 17-5-2021

V/v “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH B P

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh
Ông Nguyễn Văn Nhân

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Lực - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh B P.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B P tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B P mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 02/2020/TLPT-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 21/2020/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B Đ, tỉnh B P bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B P kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXPT-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1965 (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1962 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ: Số nhà 16, ấp Tân H, xã Phước T, huyện BĐ, tỉnh B P.
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Anh Nguyễn Thành Quốc, sinh năm: 1989; Địa chỉ: Ấp Tân Hưng, xã Phước Thiện, huyện B Đ, tỉnh B P (vắng mặt)
    • + Ủy ban nhân dân huyện B Đ; Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phương Ngọc - Phó trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện B Đ, tỉnh B P. (vắng mặt)
  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Mẫm, sinh năm: 1935. Địa chỉ: Ấp 5, xã Hưng P, huyện B Đ, tỉnh B P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện cùng các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Văn M tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1988 tại ấp Tân Hưng, xã Phước Thiện, huyện B Đ, tỉnh B P, không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa tôi và ông M phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hàn gắn được. Vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm. Nay tôi không còn tình cảm với ông M nữa yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, tôi và ông M có với nhau 01 (một) con chung tên Nguyễn Thành Quốc, sinh năm 1989. Hiện tại con chung đã trưởng thành, tự lao động được nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống với nhau, tôi và ông M có tạo lập được một số tài sản chung bao gồm:

  • + 01 thửa đất số 04, tờ bản đồ số 21, diện tích đất theo giấy CNQSDĐ 545,9m2 (diện dích sử dụng thực tế 536,6m2) Quyền sử dụng đất số: BA 242978 do UBND huyện BĐ cấp ngày 31/12/2009 cho hộ ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị T, tọa lạc tại ấp Tân Hưng, xã Phước Thiện, huyện B Đ, tỉnh B P.
  • + Cây trồng: 09 cây mai khoảng 25 tuổi; 01 cây chôm chôm (06 năm tuổi); 01 cây dừa (10 năm tuổi); 01 cây sung (03 năm tuổi); 02 cây mít (03 năm tuổi); 01 cây xanh (04 năm tuổi).
  • + 01 nhà xây cấp 4 có kết cấu: Mái tôn, nền gạch men, tường xây gạch, có sơn nước, la phông tôn, cửa gỗ, cửa sổ kính, khung bằng sắt có diện tích khoảng 150m2.
  • + 01 nhà tiền chế có diện tích ngang 6m x dài 7.3m = 43.8m2 kết cấu: Cột bê tông, mái lợp tôn, xà gồ gỗ.

Tôi yêu cầu được chia diện tích đất ngang mặt tiền đường nhựa ĐT759B là: 5 m, ngang hậu 5m, dài hết đất. Không tranh chấp tài sản trên đất là nhà và cây trồng trên đất.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn M vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án ông M trình bày:

Ông M thừa nhận những lời trình bày của nguyên đơn bà T về hôn nhân; con chung; Tài sản chung là đúng sự thật. Tuy nhiên ông M cho rằng vợ chồng ông còn nợ mẹ ruột của ông là bà Nguyễn Thị Bụp (mất năm 1996) 30 cây vàng 24k. Ông chỉ đồng ý chia ½ số tài sản chung trên cho bà T nếu bà T đồng ý trả cho bà Nguyễn Thị Bụp số vàng trên. Ngoài ra ông M không có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T tự nguyện rút đơn khởi kiện về phần yêu cầu chia tài sản chung. Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự khi nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, thì phải hỏi ý kiến của bị đơn, xong do bị đơn đã được triệu tập, niêm yết hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do là đã tự từ bỏ quyền lợi của mình nên Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B P rút toàn bộ nội dung kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự hủy một phần Bản án số 21/2020/HNGĐ –ST ngày 31/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện B Đ, tỉnh B P về chia tài sản và đình chỉ về phần chia tài sản chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 299, khoản 4 Điều 308, Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận việc rút toàn bộ kháng nghị số 03/QĐKNPT-VKS-HNGĐ ngày 01/2/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B P.
  2. Chấp nhận việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc chia tài sản chung.
  3. Hủy một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 21/2020/HNGĐ-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện B Đ và đình chỉ về phần yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh B P;

- TAND huyện B Đ;

- Chi cục THADS huyện B Đ;

- Các đương sự;

- Lưu: HSVA, Tổ HCTP, Tòa GĐ & NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2021/HNGĐ-PT ngày 17/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh B P về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 08/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh B P
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận việc rút toàn bộ kháng nghị của VKS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger