Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 08/2020/KDTM-PT

Ngày 30/11/2020

“Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; dịch vụ”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thúy Hằng
  • Các thẩm phán: ông Trần Quang Cường
  • ông Ngô Văn Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2020/TLPT-KDTM ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; dịch vụ”.

Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2020/KDTM-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 78/2020/QĐXXPT-KDTM ngày 04/11/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 72/2020/QĐ-PT ngày 20/11/2020, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần E (gọi tắt là Công ty E); địa chỉ: cụm dân cư Nội Thương, xã X, huyện L, thành phố Hà Nội;

    Người đại diện của Công ty E: bà Đinh Thị V – Chức vụ: Trưởng Phòng Pháp chế - Công ty E, là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số: 01/2019/E ngày 01/01/2019 của Tổng giám đốc Công ty E, có mặt.

  2. Bị đơn: Tổng công ty B; địa chỉ: Tổ 3, khu 8, phường H, thành phố Hạ L, tỉnh Quảng Ninh;

    Người đại diện theo ủy quyền của Tổng công ty B: ông Lưu Xuân N – Chức vụ: Kế toán trưởng - Tổng công ty B, theo Giấy ủy quyền số: 1383/UQ-ĐB ngày 10/3/2020 của Tổng Giám đốc, Tổng công ty B, có mặt.

  3. Người kháng cáo: Bị đơn Tổng công ty B.
  4. Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người đại diện của Công ty Cổ phần E là bà Đinh Thị V trình bày:

Ngày 01/3/2017, Công ty E ký Hợp đồng số: 03/2017/HĐKT “V/v Cung cấp, lắp đặt chăn, ga, gối, đệm; rèm phòng nghỉ, rèm của T1” với Tổng công ty B, tổng giá trị hợp đồng là 3.880.000.000 đồng. Ngày 28/3/2017, Tổng công ty B tạm ứng cho Công ty E số tiền 1.164.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền tạm ứng, Công ty E đã thi công lắp đặt hoàn thiện toàn bộ các hạng mục theo Hợp đồng đã ký kết. Ngày 22/12/2017, Công ty E bàn giao toàn bộ hàng hóa cho Tổng công ty B và xuất Hóa đơn GTGT số 0001029 tương ứng với số tiền là 3.880.000.000 đồng. Ngày 30/6/2018, hai bên đã có biên bản xác nhận về việc Tổng công ty B còn nợ 2.716.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay Tổng công ty B vẫn chưa thanh toán cho Công ty E. Do đó, Công ty E khởi kiện yêu cầu Tổng công ty B phải thanh toán các khoản nợ gốc và lãi chậm trả.

* Trong quá trình tố tụng, người đại diện của bị đơn Tổng công ty B, ông Lưu Xuân N trình bày:

Tổng công ty B thừa nhận việc ký kết Hợp đồng, số tiền tạm ứng và số tiền còn nợ như Công ty E trình bày là đúng. Riêng về tổng số tiền lãi, Tổng công ty B không đồng ý vì cho rằng hai bên không có điều khoản phạt vi phạm hợp đồng và việc áp dụng Luật Thương mại để tính lãi là không đúng.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2020/KDTM-ST ngày 07/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty E, buộc Tổng công ty B phải thanh toán cho Công ty E số tiền 3.495.959.725 đồng (bao gồm nợ gốc và lãi).

Ngày 25/8/2020, bị đơn Tổng công ty B kháng cáo. Ngày 21/8/2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long ban hành kháng nghị số 01/QĐ/KNPT-KDTM đề nghị sửa bản án sơ thẩm về phần tính lãi và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Việc kháng cáo và kháng nghị là đúng thời hạn và thủ tục. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Tổng công ty B nhất trí thanh toán ngay nợ gốc 2.716.000.000 đồng và hai bên thống nhất lại số tiền lãi chậm trả là 466.556.712 đồng. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long; Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Sửa bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

[1] Tổng công ty B thanh toán cho Công ty cổ phần E tổng số tiền 3.182.556.712 đồng, trong đó:

  • Số tiền nợ gốc: 2.716.000.000 đồng.
  • Số tiền lãi do chậm thanh toán: 466.556.712 đồng.

[2] Về án phí: Tổng công ty B phải chịu 95.651.000 đồng án phí KDTM sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí KDTM phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Tòa án thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục THADS tp Hạ Long;
  • - Lưu VP; lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 08/2020/KDTM-PT ngày 30/11/2020 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; dịch vụ

  • Số bản án: 08/2020/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2020
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty Everpia và Tổng công ty Đông Bắc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger