|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Thuy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Phong và ông Trần Tặng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1988 tại Nam Định; nơi ĐKHKTT: Số nhà C, ngõ G, đường Q, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số nhà C đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến S, sinh năm 1950 và bà Trần Thị H, sinh năm 1956; vợ Trương Thị N, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 03/10/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn C; Luật sư Công ty L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh H; có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Duy D, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh La Tuấn A, sinh năm 1996; địa chỉ: Xóm D, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Anh Trần Ngọc S1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn N, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Ông Trần Duy D1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số D, đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phạm Trung H1, sinh năm 1995; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 11/2023, Nguyễn Hoàng L là nhân viên của Ngân hàng V1 chi nhánh T2, tỉnh Nam Định, được giao quản lý hồ sơ, trực tiếp hỗ trợ vay vốn của khách hàng nên L có quen biết với anh Trần Duy D, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định là khách hàng vay vốn của Ngân hàng V1. Tháng 7/2024, L nghỉ việc tại Ngân hàng.
Tính đến tháng 9/2024, anh D còn 02 khoản vay tại Ngân hàng V1 với số tiền là 584.000.000 đồng, gồm: khoản vay thế chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nhà số E, ngõ A, đường L, phường C, thành phố N để vay số tiền 548.000.000 đồng; khoản vay tín chấp kèm theo khoản vay thế chấp trên số tiền 36.000.000 đồng. Do có nhu cầu vay thêm tiền nên anh D đặt vấn đề nhờ L làm thủ tục tăng hạn mức 02 khoản vay trên lên mức từ 1 tỷ 100 triệu đồng đến 1 tỷ 200 triệu đồng. Khi anh D đặt vấn đề tăng hạn mức, L không thông báo cho anh D biết việc L đã nghỉ việc tại Ngân hàng và vẫn nhận lời hỗ trợ anh D tăng hạn mức khoản vay. Sau khi trao đổi thông tin với anh D, L liên hệ với anh Phạm Trung H1, sinh năm 1995, trú tại số A ngõ A, tổ A, phường Q, thành phố N là nhân viên tín dụng của Ngân hàng Sacombank tỉnh N để kết nối cho anh D vay vốn tại ngân hàng này và được anh H1 thông báo rằng có thể giải ngân được khoản vay cho anh D với số tiền là 01 tỷ đồng.
Sáng ngày 30/9/2024, anh D hẹn gặp L tại xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam để nhờ L làm thủ tục tất toán 02 khoản vay và rút Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh D đang thế chấp tại Ngân hàng V1, mang đến thế chấp tại Ngân hàng S làm thủ tục vay số tiền 01 tỷ đồng. Tại đây, L dùng điện thoại của anh D cài đặt sinh trắc học cho anh D tại ứng dụng V2 trên điện thoại của anh D. Cài đặt xong, anh D sử dụng tài khoản Ngân hàng số 19036401969018 mở tại Ngân hàng T3 của anh D chuyển số tiền 598.062.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng V1 của anh D. Chuyển tiền xong anh D đăng nhập lại vào tài khoản Ngân hàng V1 rồi đưa điện thoại cho L để L trực tiếp thao tác tất toán các khoản vay cho anh D. L truy cập vào khoản vay tín chấp của anh D trên ứng dụng V2 của Ngân hàng V1 thấy thông báo số tiền phải thanh toán là 38.586.058 đồng (bao gồm tiền vay gốc, lãi, phạt do tất toán trước hạn) thì L thao tác tất toán khoản vay tín chấp này cho anh D. Khi hệ thống yêu cầu quét khuôn mặt để nhận diện thì L đưa điện thoại cho anh D để anh D quét khuôn mặt, anh D quét mặt xong thì đưa điện thoại lại cho L để L thao tác tất toán khoản vay tín chấp cho anh D. Sau đó, L tiếp tục truy cập vào mục khoản vay thế chấp trong ứng dụng V2 để xem số tiền cần tất toán của anh D thì thấy thông báo tổng số tiền phải thanh toán là 557.964.000 đồng, gồm tiền gốc vay 548.000.000 đồng, còn lại là tiền lãi và tiền phạt do thanh toán trước thời hạn nếu làm thủ tục tất toán. Do L là nhân viên ngân hàng nên L biết rõ việc tất toán khoản vay thế chấp phải được thực hiện trực tiếp tại quầy giao dịch mà không thực hiện trên ứng dụng V2. Lợi dụng việc anh D không biết quy định của ngân hàng trong tất toán khoản vay thế chấp và do đang cần tiền trả nợ, nên L nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 557.964.000 đồng trong tài khoản của anh D. L thông báo với anh D sẽ làm thủ tục tất toán khoản vay thế chấp trên hệ thống V2, số tiền cần thanh toán là 557.964.000 đồng. Sau đó, L sử dụng điện thoại di động của anh D để truy cập vào tài khoản Ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng V1 của anh D để chuyển 557.964.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số 0966.996.584 của L mở tại Ngân hàng V3. Do số tiền chuyển trên 500.000.000 đồng nên hệ thống ngân hàng yêu cầu phải quét khuôn mặt để nhận diện và xác nhận việc chuyển tiền. L đưa điện thoại cho anh D, nói dối anh D là quét khuôn mặt để hoàn tất thủ tục tất toán khoản vay thế chấp nêu trên. Tin lời nói của L là thật, anh D thực hiện quét khuôn mặt để nhận diện 02 lần rồi đưa lại điện thoại cho L. Khi hệ thống ngân hàng báo giao dịch chuyển tiền từ tài khoản anh D sang tài khoản của L đã thành công, L đưa điện thoại lại cho anh D và nói sẽ lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng V1 về cho anh D để anh D làm thủ tục vay tại Ngân hàng S rồi đi về.
Ngay sau khi tài khoản Ngân hàng số 0966.996.584 của L nhận được số tiền 557.964.000 đồng mà L vừa chiếm đoạt được của anh D. L chuyển số tiền 50.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số 19032828164015 của anh Trần Duy D1, sinh năm 1974, trú tại số D đường T, phường T, thành phố N mở tại Ngân hàng T3 để trả nợ cho anh D1; chuyển 490.000.000 đồng đến tài khoản số 0367866593 của anh Trần Ngọc S1, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã M, thành phố N mở tại Ngân hàng M1 để trả nợ cho anh S1. Số tiền 17.964.000 đồng còn lại, L sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Để anh D tiếp tục tin tưởng Ngân hàng V1 vẫn đang hoàn thiện thủ tục tất toán khoản vay, sáng ngày 01/10/2024 L liên hệ với La Tuấn A, sinh năm 1996, trú tại xóm D, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định là bạn của L, gửi số điện thoại của anh D cho Tuấn A đặt vấn đề nhờ Tuấn A gọi cho anh D xưng danh là nhân viên ngân hàng, L hướng dẫn nội dung để Tuấn A nói với anh D nội dung: ngân hàng đã tiếp nhận làm thủ tục tất toán khoản vay cho anh D và Ngân hàng sẽ cắt nợ khoản vay của anh D, anh D sẽ được nhận lại tài sản thế chấp trong thời hạn 07 ngày, kể từ khi Tuấn A liên hệ với anh D (tức là ngày 08/10/2024), Tuấn A đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 01/10/2024, Tuấn A sử dụng số điện thoại 0876.495.xxx liên hệ với anh D qua số điện thoại 0941.237.xxx và trao đổi nội dung như L nhờ.
Đến 14 giờ ngày 01/10/2024, anh D đến Ngân hàng V1 chi nhánh T2 để nhờ nhân viên ngân hàng xác thực lại số tiền anh D đã chuyển ngày 30/9/2024 để ngân hàng V1 tất toán các khoản vay thì được thông báo: Khoản vay tín chấp 36.000.000 đã được tất toán thành công, còn khoản vay thế chấp 548.000.000 đồng chưa được tất toán. Số tiền 557.964.000 đồng trong tài khoản của anh D được chuyển đến tài khoản Ngân hàng số 0966.996.584 mang tên Nguyễn Hoàng L mở tại ngân hàng V4 và L đã nghỉ việc tại ngân hàng V1 từ tháng 7/2024. Phát hiện L có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền, anh D làm đơn trình báo gửi đến Cơ quan CSĐT - Công an thành phố N, tỉnh Nam Định. Nhận dược đơn trình báo, Cơ quan CSĐT Công an thành phố N đã triệu tập Nguyễn Hoàng L để làm rõ nội dung vụ việc. Ngày 02/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố N đã chuyển toàn bộ tài liệu vụ việc cùng đối tượng Nguyễn Hoàng L đến Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H điều tra xử lý theo quy định pháp luật.
Nguyễn Hoàng L giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18, màu đen, tình trạng cũ đã qua sử dụng, số IMEI 1: 863178060369279, IMEI 2: 863178060369261 bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng Vietel, mặt sau có dãy số: 8984048831004501747 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT L”. Khai thác, kiểm tra dữ liệu điện thoại có nội dung: Cuộc trò chuyện giữa tài khoản Zalo tên “Nguyễn Hoàng L” với tài khoản Zalo tên “Trần Duy D”, không hiển thị số điện thoại đăng ký. L trình bày: Đây là các tin nhắn Zalo của L với tài khoản Zalo của anh Trần Duy D, sinh năm 1973, trú tại thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Tại nội dung khai thác, kiểm tra dữ liệu điện thoại của Nguyễn Hoàng L có nội dung: Cuộc trò chuyện giữa tài khoản Zalo tên “Nguyễn Hoàng L” đăng ký bằng số điện thoại 0966.996.xxx của L với tài khoản Zalo tên “Quỳnh T” đăng ký bằng số điện thoại 0834.494.xxx của La Tuấn A. Nội dung cuộc trò chuyện có thể hiện tin nhắn gửi từ tài khoản Zalo tên “Nguyễn Hoàng L” đến tài khoản Zalo tên “Quỳnh Tuấn” có nội dung: “Mày gọi bảo như sau: Có phải anh Trần Duy D không ạ? Hôm qua vào lúc 12h48ph bên em có nhận được lệnh tất toán khoản vay LD2334102378 số tiền vay là 548tr. Tất toán trước hạn có đúng không ạ? Đợi nó trả lời thì hỏi tiếp nhân viên có tư vấn anh về phí phạt và tiền lại ko ạ? Phí phạt là 5tr480k và tiền lãi là 4.484.592 đồng. Anh có đồng ý ko ạ? Vậy em xin phép được cắt nợ khoản vay vào thời điểm bây giờ và tài sản anh sẽ nhận được trong 7 ngày làm việc. Em xin cảm ơn. 0941237373. Tầm 9h10 gọi cho nó nhé”. Tại mục Ipay Mobile mang tên NGUYEN HOANG LONG của điện thoại thể hiện: Hồi 13 giờ 38 phút ngày 30/9/2024, tài khoản Nguyễn Hoàng L nhận số tiền 557.964.000 đồng có nội dung TRAN DUY DUNG chuyen tien; hồi 13 giờ 55 phút ngày 30/9/2024, tài khoản Nguyễn Hoàng L chuyển số tiền 50.000.000 đồng có nội dung NGUYEN HOANG LONG Chuyen tien; hồi 15 giờ 00 phút ngày 30/9/2024, tài khoản Nguyễn Hoàng L chuyển số tiền 490.000.000 đồng có nội dung Giai ngan theo hop dong han muc so 49087782. Kết quả kiểm tra được in ra giấy A4 có chữ ký của Nguyễn Hoàng L.
Anh Trần Duy D giao nộp 01 tờ khổ A4 Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có tài khoản số 19036401969018 mang tên “TRAN DUY DUNG” mở tại Ngân hàng T4; 01 (một) tờ khổ A4 Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có tài khoản số [...] mang tên “TRAN DUY DUNG” mở tại Ngân hàng V1. Nội dung sổ phụ thể hiện: Ngày 30/9/2024, tài khoản số 19036401969018 mang tên “TRAN DUY DUNG” tại Ngân hàng T4 chuyển số tiền 598.062.000 đồng đến tài khoản số [...] mang tên “TRAN DUY DUNG” mở tại Ngân hàng V1. Ngày 30/9/2024, tài khoản số [...] mang tên “TRAN DUY DUNG” mở tại Ngân hàng V1 chuyển số tiền 557.964.000 đồng cho “NGUYEN HOANG LONG".
Anh La Tuấn A giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu 12 pro max và 01 điện thoại nhãn hiệu ZTE 8050. Cơ quan điều tra đã khai thác dữ liệu của 02 chiếc điện thoại trên phát hiện: tại ứng dụng danh bạ phát hiện liên hệ tên “Anh Long M” lưu số điện thoại 0966.996.xxx và 0945441357, anh Tuấn A trình bày là các số điện thoại của Nguyễn Hoàng L; Tại ứng dụng Zalo phát hiện tài khoản Zalo tên “Quỳnh Tuấn” được đăng ký bởi số điện thoại 0834.494.xxx của La Anh T1 nhắn tin với tài khoản Zalo tên “Anh Long M” được đăng ký bởi số điện thoại 0966.996.xxx của Nguyễn Hoàng L. Sau khi kiểm tra, cơ quan điều tra đã chụp ảnh mà hình các tài liệu liên quan, in ra giấy A4 có chữ ký xác nhận của anh La Anh T1. Sau khi tiến hành kiểm tra, Cơ quan điều tra đã bàn giao 02 chiếc điện thoại cho anh T1, thu giữ 01 thẻ sim nhà mạng Itel, mặt sau có dãy số: 89840810008763864051 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “TS01”.
Cáo trạng số 12/CT-VKS-P2 ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 290; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng L từ 13 đến 14 năm tù; phạt bổ sung bị cáo từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Xử lý vật chứng: Tịch thu điện thoại Oppo A18 màu đen và sim; buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Duy D2 số tiền 557.964.000 đồng; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam về tội danh áp dụng đối với bị cáo. Về phần hình phạt chính, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hiện bị cáo đang phải trực tiếp nuôi 02 con nhỏ, bị hại tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 2, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để tuyên mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Hoàng L nhất trí với quan điểm của người bào chữa; lời nói sau cùng của bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, với xã hội. Bị hại không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam nhưng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt không có lý do; đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, bị cáo, người bào chữa và bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra; việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Do Nguyễn Hoàng L trước đây là nhân viên Ngân hàng V1 chi nhánh T2, tỉnh Nam Định nên L có quen biết anh Nguyễn Duy D2 là khách hàng của Ngân hàng V1 chi nhánh T2. Lợi dụng việc anh D2 đặt vấn đề để L làm thủ tục tăng hạn mức 02 khoản vay mà anh D2 đang vay của Ngân hàng V1 chi nhánh T2. Sau đó L liên hệ với nhân viên tín dụng của Ngân hàng Sacombank tỉnh N để cho anh D2 vay tiền thì được thông báo có thể vay được số tiền là 01 tỷ đồng.
Sáng ngày 30/9/2024, tại xã H, huyện L, tỉnh Hà Nam anh D2 nhờ L làm thủ tục tất toán 02 khoản vay của Ngân hàng V1 để mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp cho Ngân hàng S để làm thủ tục vay tiền. Tại đây, L cài đặt sinh trắc học cho điện thoại của anh D2, cài đặt xong anh D2 chuyển số tiền 598.062.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng V1 của anh D2. Chuyển tiền xong, anh D2 đưa điện thoại cho L để L tất toán các khoản vay cho anh D2. L truy cập vào khoản vay tín chấp của anh D2 trên ứng dụng V2 của Ngân hàng V1 thấy số tiền phải thanh toán là 38.586.058 đồng và L đã tất toán khoản vay này cho anh D2. Sau đó, L truy cập vào mục khoản vay thế chấp trên ứng dụng V2 để xem số tiền cần tất toán thì được biết số tiền phải thanh toán là 557.964.000 đồng và L biết rõ việc tất toán khoản vay thế chấp phải được thực hiện tại quầy giao dịch mà không thực hiện trên ứng dụng V2. Do đang cần tiền trả nợ, nên L nói với anh D2 sẽ làm thủ tục tất toán khoản vay thế chấp trên hệ thống V2. Sau đó, L sử dụng điện thoại di động của anh D2 truy cập vào tài khoản Ngân hàng số [...] mở tại Ngân hàng V1 của anh D2 để chuyển 557.964.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng số 0966.996.584 của L mở tại Ngân hàng V3. Do số tiền chuyển trên 500.000.000 đồng nên L đưa điện thoại cho anh D2 và nói dối anh D2 là quét khuôn mặt để hoàn tất thủ tục tất toán khoản vay thế chấp. Tin lời nói của L là thật, anh D2 thực hiện quét khuôn mặt để nhận diện 02 lần rồi đưa lại điện thoại cho L. Khi hệ thống ngân hàng báo giao dịch chuyển tiền từ tài khoản anh D2 sang tài khoản của L đã thành công, L đưa điện thoại lại cho anh D2. Số tiền 557.964.000 đồng chiếm đoạt được của anh D2, L đã sử dụng trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng L về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
4.1. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Hoàng L có nhân thân tốt.
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
4.3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong các giai đoạn tố tụng và tại phiên tòa xét xử công khai, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu quan điểm, bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Bị cáo Nguyễn Hoàng L có nhân thân tốt nhưng không tu dưỡng bản thân; vì mục đích vụ lợi mà bị cáo đã lợi dụng lòng tin của anh Trần Duy D, đưa ra những thông tin gian dối và sử dụng phương tiện điện tử, mạng viễn thông để thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền trên 500 triệu đồng của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích; đồng thời, có tác dụng phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất vụ lợi, bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo để quyết định mức phạt tiền cho phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, anh Trần Duy D đề nghị bị cáo Nguyễn Hoàng L phải trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Xét thấy, sau khi chiếm đoạt tiền của anh D, bị cáo L và gia đình chưa hoàn trả nên buộc bị cáo phải trả cho anh D số tiền 557.964.000 đồng.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18 màu đen bên trong lắp sim nhà mạng V là công cụ, phương tiện để bị cáo sử dụng chiếm đoạt tài sản của bị hại; còn giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
9.1. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
9.2. Bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Về vấn đề khác:
10.1. Đối với anh La Tuấn A giúp L thông báo với anh D nội dung: Ngân hàng đã tiếp nhận làm thủ tục tất toán khoản vay cho anh D và Ngân hàng sẽ cắt nợ khoản vay của anh D, anh D sẽ được nhận lại tài sản thế chấp của anh D trong thời hạn 07 ngày kể từ khi Tuấn A liên hệ với anh D. Do tin tưởng thông tin của L là thật vì L là nhân viên Ngân hàng V1 nên Tuấn A làm theo như lời L đã nhờ. Nhận thấy Tuấn A không được L bàn bạc, thống nhất, không biết L đã chiếm đoạt tiền của anh D do đó Tuấn A không đồng phạm với long, việc Cơ quan điều tra không xử lý đối với La Tuấn A là có căn cứ.
10.2. Đối với anh Trần Duy D1 được L trả nợ 50.000.000 đồng, anh Trần Ngọc S1 được L trả nợ 490.000.000 đồng từ số tiền L chiếm đoạt của anh D. Khi L trả tiền, anh D1 và anh S1 không biết là tiền L phạm tội mà có, Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã yêu cầu anh D1 và anh S1 nộp lại số tiền này nhưng anh D1 và anh S1 chưa nộp lại; đồng thời không xử lý anh D1 và anh S1 về hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 Điều 290, khoản 2 Điều 35, Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 292 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L 10 (mười) triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng L phải trả lại cho bị hại là anh Trần Duy D số tiền 557.964.000đ (Năm trăm lăm mươi bảy triệu chín trăm sáu mươi tư nghìn đồng).
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải hoàn trả nêu trên, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A18, màu đen bên trong lắp sim V5.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/01/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh H và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
- Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phải nộp 26.318.560₫ (Hai mươi sáu triệu ba trăm mười tám nghìn lăm trăm sáu mươi đồng).
- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Văn Thuy |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng L sử dụng điện thoại di động thực hiện hành chiếm đoạt số tiền 557.964.000 đồng của bị hại
