Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG ẢNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HS-ST

Ngày: 29-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Ngọc Quang

2. Ông: Lường Văn Hưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST – HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

Bị cáo thứ nhất: Họ và tên: Lò Văn T; Tên khác: Không; sinh ngày: 16/02/1963, tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CS, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Đ (Đã chết) và con bà Lò Thị Đ, sinh năm 1932; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Quàng Thị K, sinh năm 1965 và có 04 người con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1992; tiền án: 01 tiền án tại Bản án số 30/2016/HSST ngày 11/3/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 30/4/2022 chấp hành xong án phạt tù, đến nay chưa xóa án tích; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/9/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 26 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích; Ngày 06/8/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 200.000 đồng, đã nộp phạt; Ngày 04/01/2011 bị Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sơ giáo dục 24 tháng, đã chấp hành xong đến nay coi như chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2024 đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Bị cáo thứ hai: Họ và tên: Lò Văn M; Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13/4/1989 tại huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản CS, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lò Văn P, sinh năm 1949 và bà Tòng Thị I (đã chết); Gia đình bị cáo có 08 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Bị cáo có vợ chị Lò Thị Hưng, sinh năm 1992 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2024 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T: Bà Hà Thị Thuận - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M: Bà Lê Thị Thuý An - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Chi Nhánh trợ giúp pháp lý số 3 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn M được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 12/7/2024, Lò Văn M đi từ nhà lên khu vực bản Hua Pí, xã Xuân Lao, huyện Mường Ảng để tìm mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến đoạn đường thuộc bản Hua Pí thì Mai gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Mai đã hỏi mua được của người này 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy Mai trở về nhà, còn người đàn ông dân tộc Mông đi đâu không rõ. Về đến nhà Mai cấu lấy một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít, số Heroine còn lại Mai cất giấu dưới đệm giường ngủ để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2024 Mai đang ở nhà của gia đình thì Lò Văn T, sinh năm 1963, trú cùng bản Co Sản, xã Mường Lạn đến hỏi mua ma túy. Mai đã lấy gói Heroine ra cấu chia thành 02 phần rồi lấy mảnh nilon màu hồng gói lại thành 02 gói khác nhau. Mai đã bán cho Lò Văn T 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua được ma túy Lò Văn T trở về nhà cấu lấy một ít Heroine sử dụng bằng hình thức hít, số ma túy còn lại Lò Văn T cất giấu vào túi áo trước ngực phía bên trái. Sau khi bán xong ma túy cho Lò Văn T thì Mai cũng lấy gói Heroine ra sử dụng hết. Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày, Lò Văn T đi ra khu vực bản Bon, xã Mường Lạn tìm lốp xe về làm máng lợn thì gặp tổ công tác Công an xã Mường Lạn đang làm nhiệm vụ yêu cầu Lò Văn T dừng lại để kiểm tra, tổ công tác yêu cầu Lò Văn T bỏ ma túy ra giao nộp thì Lò Văn T lấy từ túi áo trước ngực phía bên trái đang mặc ra 01 gói Heroine có khối lượng 0,2 gam giao nộp cho tổ công tác. Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn M để xác minh làm rõ thì Mai cũng đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội.

Ngày 22/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Ảng quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 249 và Lò Văn M về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 21 giờ 25 phút ngày 13/7/2024 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn T là 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng nghi là Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 13/7/2024 thì 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng nghi là Heroine có khối lượng là: 0,2 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 1240/KL-KTHS, ngày 20/7/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn T gồm: 0,2 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 94/CT - VKSMA, ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Lò Văn M về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lò Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lò Văn M từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 08 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS:

  • Tịch thu tiêu hủy 0,16 gam Heroine là vật chứng hoàn lại của vụ án.
  • Tịch thu tiêu huỷ 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư có viền xanh đỏ niêm phong ban đầu.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đề nghị xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho các bị cáo Lò Văn T và Lò Văn M.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn T nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện hành vi phạm tội của Lò Văn M đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt phù hợp và nhẹ nhất có thể. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Lò Văn T nhất trí với nội dung bản luận cứ của người bào chữa không có ý kiến gì khác.

  • Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn M nhất trí với nội dung cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn Pó được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt phù hợp nhẹ nhất có thể. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo Lò Văn M nhất trí với nội dung bản luận cứ của người bào chữa không có ý kiến gì khác.

Lời nói sau cùng bị cáo Lò Văn T nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị cáo Lò Văn M nhận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của các bị cáo cụ thể: Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2024 tại nhà ở của gia đình thuộc bản CS, xã ML, huyện MA, tỉnh Điện Biên Lò Văn M đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn T với giá 100.000 đồng. Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày, Lò Văn T bị Công an xã Mường Lạn phát hiện bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,20 gam. Mục đích để sử dụng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lò Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Các Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ tác hại của ma túy, bị cáo Mai đã hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lò Văn T, cả hai bị cáo đều là người thực hiện tích cực hành vi phạm tội.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lò Văn T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Hành vi của bị cáo Mai bị xét xử ở khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo: Bị cáo Lò Văn T, Lò Văn M là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện hành vi phạm tội của Lò Văn M nên Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Lò Văn T ngày 11/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt 08 năm 06 tháng tù, ngày 30/4/2022 chấp hành xong án phạt tù, đến nay chưa xóa án tích nên bị cáo tình tiết tăng nặng qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Bị cáo Lò Văn M có bố đẻ là ông Lò Văn Pó được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được qui định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Mai không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,16 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư có viền xanh đỏ niêm phong ban đầu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông bán ma tuý cho Mai, do Mai không biết địa chỉ và họ tên của người này. Quá trình điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ nên HĐXX không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn M.

[8]. Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. 1.1.Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy";

    1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy"

    - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 7 năm 2024.

    Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt: Bị cáo Lò Văn M 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14 tháng 7 năm 2024.

  2. 2. Vật chứng: Căn cứ điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,16 gam Heroine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư có viền xanh đỏ niêm phong ban đầu (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024).

  3. 3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí HSST cho các bị cáo Lò Văn T, Lò Văn M.

  4. 4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND h.Mường Ảng;
  • - Công an h.Mường Ảng; Cơ quan THAHS
  • Công an huyện; Nhà tạm giữ CA huyện
  • Mường Ảng
  • - Chi cục THADS h.Mường Ảng;
  • - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự về tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG - TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn M/ Lò Văn T - Tàng trữ Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger