Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/GĐ&NCTN-HSPT

Ngày: 28/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh.

Ông Nguyễn Văn Tính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Thân Thanh Huyền- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 24/2024/TLPT-GĐ&NCTN ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Gia K và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Gia K, sinh ngày 24/8/2006; Giới tính: Nam; HKTT: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Quốc H, sinh năm 1980 và con bà Đỗ Thị Ngọc B, sinh năm 1983; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 147 ngày 22/9/2022 của Công an thành phố B bị cáo bị xử phạt bằng hình thức cảnh cáo đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa;

2. Trần Thị Thu P, sinh ngày 14/5/2007; Giới tính: Nữ; HKTT: thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con bà Trần Thị H1; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 96 ngày 27/7/2021 của Công an huyện Q (nay là thị xã Q) bị xử phạt bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng thông tin số nhằm quấy rối, xúc phạm uy tín, danh dự.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa;

3. Lê Ngọc H2, sinh ngày 10/01/2006; Giới tính: Nam; HKTT: khu phố L, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn H3 và con bà Nguyễn Thị T. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa;

4. Nguyễn Tuấn L, sinh ngày 23/4/2007; Giới tính: Nam; HKTT: khu phố N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn S và con bà Nguyễn Thị H4; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

5. Nguyễn Thành V, sinh ngày 04/5/2005; Giới tính: Nam; HKTT: khu phố N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T1 và con bà Phan Thị M; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 21/11/2023 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa;

6. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; HKTT: Khu phố M, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con bà Nguyễn Thị T2; bị cáo là con duy nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 21/11/2023 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa;

7. Vương Thị H5, sinh ngày 05/6/2007; Giới tính: Nữ; HKTT: Khu V, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vương Văn L1 và con bà Nguyễn Thị H6; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ 2; chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa;

8. Nguyễn Kim T3, sinh ngày 22/5/2007; Giới tính: Nam; HKTT: Khu L, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Kim L2 và con bà Dương Thị N; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 17/11/2023 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa;

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Thị Thu P đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T4, sinh năm 1953; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Là ông ngoại bị cáo).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Tuấn L: Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1972; địa chỉ: Khu phố N, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Là mẹ đẻ bị cáo).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Vương Thị H5: Anh Vương Quốc L3, sinh năm 1995; địa chỉ: Khu V, phường V, TP ., tỉnh Bắc Ninh. (Là anh trai bị cáo).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Kim T3: Ông Nguyễn Kim L2, sinh năm 1976; địa chỉ: Khu phố L, phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. (Là bố đẻ bị cáo).

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Gia K, Nguyễn Kim T3, Vương Thị H5, Trần Thị Thu P: Bà Nguyễn Thị C - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L: Bà Phan Thị Thu H7 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ khoảng 00 giờ 30 phút đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, tại tuyến đường Q thuộc địa phận từ phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh nhóm Lê Ngọc H2, Phạm Gia K, Vương Thị H5, Trần Thị Thu P, Nguyễn Kim T3, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Đức A, Nguyễn Văn Đ, Lưu Viết C1, Vũ Đức T5, Trương Thế V1, Nguyễn Mạnh H8 đã có hành vi điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, phóng xe khoảng 80 – 90 Km/h vừa đi vừa hò hét, bấm còi, bốc đầu xe sau đó gặp nhóm Vàng A V2, Hò Văn Q, Phùng Văn H9, Hò Văn K1, Nông Văn K2, Vương Văn L4, Nông Văn Q1, Cháng A, Tẩn A K3 thì xảy ra việc các đối tượng dùng hung khí gồm dao, kiếm, tuýp sắt để xô xát đánh nhau và dùng xe mô tô đuổi đánh nhau từ tuyến đường Quốc lộ 18 đến phường P và kéo dài tới địa phận phường V, thành phố B. Hành vi của các đối tượng gây hoang mang, lo sợ sợ cho quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương là địa bàn thị xã Q và thành phố B.

Trong các ngày 12/11/2023, 16/11/2023 và 21/11/2023 V2, Q1, Q, H9, K1, L4, C2, V1, T5, H2, H8, C1, Gia K, L, Đ, H5, V, P, A, T3, K2K3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số: 121/2024/HS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ quyết định:

- Tuyên bố các bị cáo Phạm Gia K, Nguyễn Thị Thu P1, Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Vương Thị H5, Nguyễn Kim T3, Nguyễn Văn Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 21/11/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt:

Bị cáo Phạm Gia K 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023.

Bị cáo Trần Thị Thu P 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023.

Lê Ngọc H2, bị cáo Nguyễn Tuấn L mỗi bị cáo 19 (mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023.

Bị cáo Vương Thị H5 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 12/11/2023 đến ngày 17/11/2023.

Bị cáo Nguyễn Kim T3 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian đã tạm giữ từ ngày 13/11/2023 đến ngày 17/11/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/6/2024 bị cáo Phạm Gia K kháng cáo, ngày 19/6/2024 bị cáo Nguyễn Kim T3 kháng cáo, ngày 20/6/2024 bị cáo Vương Thị H5 kháng cáo, ngày 21/6/2024 bị cáo Nguyễn Thành V kháng cáo, ngày 25/6/2024 bị cáo Nguyễn Tuấn L và bị cáo Lê Ngọc H2 kháng cáo, ngày 27/6/2024 bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo, ngày 28/6/2024 bị cáo Trần Thị Thu P đều xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phạm Gia K, Trần Thị Thu P, Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ, Vương Thị H5, Nguyễn Kim T3, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đều còn ít tuổi, có bị cáo là người chưa thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nhận xét vụ án và phân tích hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Gia K, Trần Thị Thu P, Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ, Vương Thị H5, Nguyễn Kim T3; sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị C phát biểu quan điểm bào chữa cho các bị cáo Phạm Gia K, Nguyễn Kim T3, Vương Thị H5, Trần Thị Thu P; trợ giúp viên pháp lý Phan Thị Thu H7 phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L cho rằng: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt (trừ bị cáo P và K), phạm tội lần đầu; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú; quá trình điều tra đến phiên tòa hôm nay, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; riêng bị cáo H5 có ông bà ngoại là người có công với cách mạng. Vì vậy, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ và khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều là người chưa thành niên, hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý và không bổ sung gì thêm.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo nhất trí quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý và không bổ sung gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Kháng cáo của các bị cáo Phạm Gia K, Trần Thị Thu P, Vương Thị H5, Nguyễn Thành V, Nguyễn Tuấn L, Lê Ngọc H2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Kim T3 trong thời hạn luật định, nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với báo cáo của chính quyền địa phương, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ khoảng 00 giờ 30 phút đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, tại tuyến đường Q thuộc địa phận từ phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, nhóm Lê Ngọc H2, Phạm Gia K, Vương Thị H5, Trần Thị Thu P, Nguyễn Kim T3, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Đức A, Nguyễn Văn Đ, Lưu Viết C1, Vũ Đức T5, Trương Thế V1, Nguyễn Mạnh H8 đã có hành vi điều khiển xe mô tô lạng lách, đánh võng, phóng xe khoảng 80 - 90km/h vừa đi vừa hò hét, bấm còi, bốc đầu xe, sau đó gặp nhóm Vàng A V2, Hò Văn Q, Phùng Văn H9, Hò Văn K1, Nông Văn K2, Vương Văn L4, Nông Văn Q1, Cháng A, Tẩn A K3 thì xảy ra việc các đối tượng dùng hung khí gồm dao, kiếm, tuýp sắt để xô xát đánh nhau và dùng xe mô tô đuổi đánh nhau trên tuyến đường Q từ phường P, thị xã Q và kéo dài tới địa phận phường V, thành phố B.

Hành vi dùng dao, kiếm, tuýp sắt để xô xát đánh nhau và dùng xe mô tô đuổi đánh nhau là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo xảy ra trên Quốc lộ A, gây hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân và ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương là địa bàn thị xã Q và thành phố B, là hai địa bàn có tuyến Q, hoạt động kinh tế, xã hội rất sôi động. Do vậy, Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo K1, P, V, L, H2, Đ, H5, T3, HĐXX nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều đã đến Cơ quan công an đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, giao nộp phương tiện, công cụ phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ hành vi phạm tội, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ.

Tuy nhiên, đánh giá toàn diện vụ án, các bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo V2, được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi (trừ bị cáo Đ, V), hiện đang đi học. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo xuất trình chứng cứ về việc ủng hộ quỹ vì người nghèo tại địa phương nơi cư trú nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ lại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần chiếu cố, khoan hồng, thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, tạo điều kiện để các bị cáo tiếp tục đi học, cải tạo tại địa phương giúp các bị cáo nhận ra sai lầm và tự sửa chữa, rèn luyện bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy, cần sửa bản án sơ thẩm đối với các bị cáo K1, P, V, L, H2, Đ, H5, T3 theo hướng giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho hưởng án treo là phù hợp.

[3]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

[4]. Án phí: Yêu cầu kháng cáo của các bị cáo K1, P, V, L, H2, Đ, H5, T3 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Phạm Gia K, Trần Thị Thu P, Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ, Vương Thị H5, Nguyễn Kim T3; sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 65, Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/8/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 65, Điều 91; Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Gia K 21 (hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 42 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/8/2024.

Bị cáo Trần Thị Thu P 20 (hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 40 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/8/2024.

Bị cáo Lê Ngọc H2, bị cáo Nguyễn Tuấn L mỗi bị cáo 19 (mười chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách là 38 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 28/8/2024.

Bị cáo Vương Thị H5, bị cáo Nguyễn Kim T3 mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời gian thử thách đối với mỗi bị cáo là 36 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Gia K cho UBND phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Trần Thị Thu P cho UBND xã P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Lê Ngọc H2, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V cho UBND phường Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Kim T3 cho UBND phường V, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Vương Thị H5 cho UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

[2]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3]. Án phí: Bị cáo Phạm Gia K, Trần Thị Thu P, Lê Ngọc H2, Nguyễn Kim T3, Nguyễn Tuấn L, Nguyễn Thành V, Nguyễn Văn Đ, Vương Thị H5 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ 1 - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CSĐT, VKS, TAND thị xã Quế Võ;
  • - Trại tạm giam; PC 10 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuyết Mai

CÁC THẨM PHÁN

Nguyễn Hữu Minh+ Nguyễn Văn Tính

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuyết Mai

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/GĐ&NCTN-HSPT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 07/2024/GĐ&NCTN-HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger