|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2023/HS-ST
Ngày 24/10/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Tâm và ông Cà Văn Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Văn X; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1978; tại huyện T, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không; con ông Lò Văn N, đã chết; con bà Lò Thị N1, sinh năm 1962; bị cáo có vợ là Lò Thị P, sinh năm 1983 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Theo Bản án số: 111/HS/ST ngày 19/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và buộc bồi thường thiệt hại 2.000.000đ; bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; bị cáo chưa bị xử lý hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay và bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lò Văn S; tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/6/1980; tại huyện T, tỉnh Sơn La; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản L, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 2/12; con ông Lò Văn K, sinh năm 1954; con bà Lò Thị Ó, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Lò Thị D, sinh năm 1982 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án và bị xử lý hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay và bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người phiên dịch cho bị cáo Lò Văn X có: Bà Hoàng Phương T; sinh năm 1985; địa chỉ: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, Lò Văn X điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HonDa WaVe, biển kiểm soát 26B2-85.002 mượn của Cà Văn H (là em trai họ của X) từ nhà ở bản L, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La đến nhà Lò Văn S ở cùng bản. Khi gặp, X rủ S đi mua ma túy về sử dụng, S đồng ý và nói “Đi lên Tuần Giáo mua đi, anh chỉ có 100.000 đồng thôi”, X nói “Em cũng có 100.000 đồng thế cùng nhau góp đi mua ma túy cùng sử dụng”, X đưa 100.000 đồng cho S sau đó X điều khiển xe mô tô chở S về hướng huyện T, khi đang đi trên đường QL279 thuộc địa phận bản Có, xã Q, huyện T, S và X gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi S và X mua của người đàn ông đó 04 gói heroine được gói bằng các mảnh nilon màu xanh, bên ngoài bọc một túi nilon màu trắng với giá 200.000 đồng, khi mua được Heroine Sóng cất giấu vào trong túi áo trước ngực bên phải đang mặc sau đó S điều khiển xe mô tô chở X về nhà, đến 10 giờ 10 phút cùng ngày khi đi đến đèo P thuộc khu vực bản Có, xã Q, huyện T thì bị tổ công tác Công an xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi áo trước ngực bên phải của Lò Văn S 01 gói nilon màu trắng bên trong có 04 gói nhỏ nghi chứa ma túy; tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, đưa các bị cáo về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.
Tại Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 25/6/2023, có sự chứng kiến của các bị cáo đã xác định khối lượng như sau: 04 gói nilon màu xanh bên trong tất cả các gói nilon màu xanh đều chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine được xác định khối lượng là 0,19 gam, gửi toàn bộ 0,19 gam làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 191/QĐ-CSĐT, ngày 27/6/2023. Tại bản Kết luận giám định số: 1079/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu cục bột màu trắng dạng cục và dạnh bột thu giữ của Lò Văn S và Lò Văn X gửi giám định là chất Ma túy: Loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,13 gam Heroine.
Tại Cáo trạng số: 152/CT-VKS-TG ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố các bị cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù và bị cáo Lò Văn X từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng còn lại là 0,13 gam.Heroine; 04 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng để tiêu hủy. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo X có gia đình thuộc diện hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí vì vậy đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-04), Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL58), Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL59-60), Kết luận giám định (BL64); Biên bản ghi lời khai (BL104-106; BL129-131); Biên bản hỏi cung bị can, bản tường trình (BL107-113; BL 132-136) và các chứng cứ khác; do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 25/6/2023, khi tổ công tác Công an xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên kiểm tra, khám xét đã thu giữ ở túi áo trước ngực của bị cáo S 04 gói bên trong có chứa Heroine, khối lượng Heroine được xác định 0,19 gam. Số ma túy thu giữ được là do S và X cùng góp tiền chung để mua (trong đó S góp 100.000đ, X góp 100.000đ). Số ma túy này các bị cáo mua của một người đàn ông không rõ lai lịch với giá 200.000đ; mục đích mua ma túy của các bị cáo là để sử dụng. Hành vi tàng trữ 0,19 gam Heroine của các bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Bị cáo X đã từng bị kết án và có thời gian cải tạo giáo dục nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi, sống tốt hơn làm gương cho con mà lại có hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo; như vậy mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
- [3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Đối với bị cáo X: Bị cáo đã từng bị kết án theo Bản án số: 111/HS/ST ngày 19/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và buộc bồi thường thiệt hại 2.000.000đ; bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Tính đến thời điểm có hành vi phạm tội ngày 25/6/2023, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo S: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trong vụ án này, X là người khởi xưởng rủ S cùng đi mua ma túy; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau góp tiền, cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên HĐXX sẽ căn cứ vào Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định; các bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Xét đề nghị về tội danh và mức hình phạt của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đối với các bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy là đúng hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau: Đối với 0,13 gam Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy; 01 mảnh nilon màu trắng, 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng do không còn giá trị sử dụng vì vậy tịch thu để tiêu hủy.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo X gia đình thuộc diện hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí vì vậy HĐXX chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy bị cáo S thuộc trường hợp phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Đối với người đàn ông không rõ lai lịch, đã bán ma túy cho các bị cáo; nhưng khi mua bán các bị cáo không hỏi tên tuổi địa chỉ ở đâu nên không có cơ sở xác minh làm rõ, do đó tại vụ án này HĐXX không xem xét.
[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn X và bị cáo Lò Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn X 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 25/6/2023.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Văn S 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù; thời gian thi hành án phạt tù tính từ ngày 25/6/2023.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng màu trắng, các mép đều được dán kín của Phòng K1 - Công an tỉnh Đ, mặt trước phong bì niêm phong có chữ viết tay: Mẫu hoàn lại theo Kết luận giám định số 1079/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của phòng K2, có khối lượng mẫu hoàn lại 0,13 gam Heroine và 01 gói niêm phong bằng phong bì màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì có ghi vật chứng còn lại vụ Lò Văn S và Lò Văn X gồm có 01 mảnh nilon màu trắng, 04 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ phong bì cũ (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Lò Văn X được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Lò Văn S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Minh Tâm Cà Văn Ngọc |
Lương Thị Nga |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |
Bản án số 07/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 07/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
