Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM SÁCH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày 24-6-2024

“V/v tranh chấp cử người giám hộ,

giám sát"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và bà Trần Thị Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp cử người giám hộ, giám sát” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 19/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Buôn C, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952; Địa chỉ: Khu dân cư T, phường Á, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Dương Thị L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
  2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
  3. Ông Nguyễn Thiên H, sinh năm 1942; Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương.

Có mặt chị B, bà N, anh T, ông H, ông H1

1

Bà L, anh Đ có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác Nguyễn Hồng T2) kết hôn với bà Dương Thị L ngày 22/3/1977 và có 02 người con là chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Văn Đ. Ông T2, bà L được bố mẹ là cụ Nguyễn Văn Q và cụ Nguyễn Thị K tặng cho 01 thửa đất và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ Q mất năm 1987, cụ K mất năm 2010. Năm 1992, ông T2 có quan hệ với bà Vũ Thị Y và có 01 người con chung là Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 nên giữa ông T2 và mẹ con bà L xảy ra mâu thuẫn. Bà L đã đưa chị B, anh Đ vào xây dựng kinh tế mới tại huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Sau khi mẹ con bà L đi, ông T2 đón bà Y về chung sống trên nhà đất. Trong quá trình chung sống với bà Y, ông T2, bà Y đã mua được 01 thửa đất và hiện bà Y, anh T đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, ông T2, bà L không ly hôn và mà vẫn qua lại với nhau. Đến ngày 10/4/2022, ông T2 bị tai biến. Gia đình đã đưa ông T2 đi bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu và điều trị cho đến nay, do bệnh nặng nên ông T2 đã tê liệt hoàn toàn, không nhận biết được gì, trở thành người thực vật, phải có người trông nom, chăm sóc 24/24. Tháng 6/2023, bà L đã làm thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố ông T2 là người mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 05/8/2023, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố ông T2 mất năng lực hành vi dân sự (mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi).

- Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: Thời gian đầu ông T2 bị bệnh, anh T, bà Y có thăm nom và chăm sóc. Tuy nhiên, sau đó, bà Y, anh T không quan tâm, chăm sóc cho ông T2. Việc chăm nom ông T2 chủ yếu do ông Nguyễn Duy H1 là em ruột ông T2 trực tiếp chăm sóc. Bà L sức khỏe yếu nên chị B, anh Đ thay nhau chăm sóc và đóng góp chi phí điều trị cho ông T2. Vì bệnh nặng nên chi phí điều trị cho ông T2 từ 10/4/2022 cho đến nay đã hơn 900 triệu đồng số tiền này hoàn toàn phải đi vay mượn người thân, họ hàng. Gia đình chị có họp bàn để bán một phần diện tích thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 tại thôn P, xã P, huyện N để trang trải nợ nần cho ông T2 và tiếp tục điều trị, chăm sóc cho ông T2 trong những ngày cuối đời. Khi làm thủ tục công chứng, gia đình chị được yêu cầu phải có người giám hộ, giám sát cho ông T2 mới có đủ điều kiện chuyển nhượng tài sản. Gia đình chị đã họp bàn để cử người giám hộ cho ông T2 nhưng không thống nhất được với nhau. Vì vậy, chị Nguyễn Thị B khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề sau:

  1. Chỉ định người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: Nguyễn Hồng T2) là chị Nguyễn Thị B. Quan hệ là con lớn nhất của ông T2.
  2. Chỉ định người giám sát cho ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: Nguyễn Hồng T2) là ông Nguyễn Thiên H. Quan hệ là anh ruột ông T2. Hiện là người giám sát mọi chi phí cho ông T2 từ ngày 25/4/2022 cho đến nay.

2

- Bà Nguyễn Thị N là người đại diện theo ủy quyền và là chị gái ông T2 trình bày: Bà nhất trí đề nghị cử chị Nguyễn Thị B (con đẻ ông Nguyễn Văn T1) là người giám hộ cho ông T1 vì ông T1 đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố là người mất năng lực hành vi dân sự. Và cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát. Không chấp nhận ý kiến của anh Nguyễn Văn T về việc cử anh T là người giám hộ cho ông T1. Căn cứ: Chị Nguyễn Thị B là con cả của ông T1. Kể từ khi ông T1 bị tai biến đến nay chị B là người con duy nhất gần gũi, chăm sóc ông T1. Khi ông T1 bị tai biến chị B trực tiếp ra chăm sóc, nuôi dưỡng hàng tháng. Sau khi ổn định sức khỏe chị B mới về. Còn anh T có chăm nhưng chỉ thời gian đầu còn sau đó thì bỏ bẵng. Có lần anh T đang chăm thì bỏ về trong khi chưa có người thay thế. Ngoài ra, khi ông T1 về nhà chị B cũng là người thường xuyên chăm sóc ông T1 nhất là những ngày nghỉ lễ tết và dịp hè. Cả kỳ nghỉ hè năm 2022, 2023 chị B ra ở lại và chăm ông T1, việc này có tất cả các anh chị em trong gia đình và hàng xóm chứng kiến. Khi chị B về làm việc thì chị B ủy quyền cho ông Nguyễn Duy H1 là em trai ông T1 thay mặt mình chăm sóc, nuôi dưỡng ông T1, chị Bình thường x gọi điện hỏi han sức khỏe của ông T1 cũng như việc ăn uống, thuốc thang cho ông T1. Còn anh T thì không hề qua lại, nhòm ngó, chăm sóc gì ông T1. Anh chị em chúng tôi cũng như đoàn thể động viên anh T về chăm ông T1 nhưng anh T không về. Nay anh T đề nghị cử anh T là người giám hộ tôi hoàn toàn khôngnhất trí vì anh T không đủ tư cách, điều kiện để giám hộ cho ông T1. Việc anh T không nhất trí đề nghị cử chị B là người giám hộ mục đích để gây khó khăn cho gia đình trong việc giải quyết một số việc dân sự mà gia đình đang muốn giải quyết. Hiện ông Nguyễn Thiên H là người đang theo dõi, giám sát việc trông nom ông T1. Lý do tôi nhất trí đề nghị cử ông Nguyễn Thiên H (anh ruột ông T1) là do ông H cũng ở gần nhà, ngày nào cũng đến thăm nom, hỏi han, quan tâm ông T1. Mặt khác, ông H là anh cả trong gia đình, ông H rất có tiếng nói trong gia đình, dòng họ và ngay cả bản thân tôi cũng luôn tôn trọng các quyết định của ông H. Việc đề nghị ông H là người giám sát sẽ tránh được mâu thuẫn, nghi ngờ lẫn nhau giữa các con của ông T1. Hiện ông H đang quản lý tiền chi tiêu thuốc thang, sinh hoạt của ông T1. Ông H lập sổ sách chi tiêu chi tiết việc điều trị của ông T1 mà không ai có bất cứ ý kiến thắc mắc gì. Do vậy, việc cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát là đảm bảo nhất cho quyền lợi của ông T1. Việc anh T trình bày mẹ anh T là bà Vũ Thị Y chăm sóc ông T1 là không đúng. Bà Y đi làm từ sáng đến tối mới về ( khoảng 9h tối) thì chỉ về ngủ lại nhà chứ không trực tiếp chăm sóc ông T1, ngay cả quần áo của ông T1 cũng không giặt giũ gì. Việc này bà và bà Nguyễn Thị L1 (chị gái ông T1) là người chứng kiến vì bà thường xuyên đến thăm nom có hôm 11h đêm bà mới về còn bà L1 thì thường xuyên ngủ lại để cùng ông H1 chăm sóc ông T1 đêm hôm.

- Theo bị đơn anh Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 10/4/2022, ông T1 bị tai biến đã được đưa đi viện đa khoa tỉnh Hải Dương, sau đó là bệnh viện B1, Hà Nội điều trị. Hiện tại ông T1 đã được Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Trong thời gian ông T1 điều trị ở viện Bạch

3

Mai, anh cũng tham gia chăm sóc ông T1. Sau đó, gia đình đã bàn bạc để anh Đ (là con trai lớn) chăm sóc cho ông T1 ở viện, mỗi tháng trả cho anh Đ 15 triệu đồng, việc bàn bạc và thống nhất xong thì các bác mới báo qua anh nhưng được khoảng 1 tuần thì anh Đ đã quay trở vào Đ, ông Nguyễn Duy H1 chăm sóc cho ông T1 và vẫn duy trì mỗi tháng trả cho ông H1 là 15.000.000 đồng. Việc bàn bạc này anh cũng không được tham gia. Sau khi hai bên có tranh chấp về cử người giám hộ, tại buổi hòa giải ngày 30/10/2023, anh đã có ý kiến: Vì hiện tại ông H1 là em trai ông T1 đang chăm sóc có lấy tiền công chăm sóc là 15.000.000 đồng/tháng nên hàng ngày anh chỉ đi lại thăm ông T1, còn việc chăm sóc ông H1 đã lấy tiền công thì ông H1 phải làm. Bản thân anh là con, anh nhận nuôi dưỡng và chăm sóc cho ông T1, không yêu cầu ai phải đóng góp kinh tế, còn ai có lòng giúp đỡ thì anh xin nhận để không phải bán đất của ông T1 đi nhưng chị B và các bác, chú không đồng ý, gạt anh ra không cho anh tham gia chăm sóc cho ông T1.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị B, quan điểm của anh không đồng ý cử chị B là người giám hộ vì chị B ở xa và vẫn đang công tác nên không có điều kiện chăm sóc cho ông T1 ốm nằm liệt giường được mà chỉ có thể đi qua đi lại. Anh xin được quyền giám hộ cho ông T1, anh sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho ông T1 không yêu cầu ai phải đóng góp kinh tế, còn ai có lòng giúp đỡ thì anh xin nhận. Anh cũng đồng ý bán một phần đất của ông T1 đi để trả nợ nhưng sau khi trả hết nợ, anh xin nhận nuôi dưỡng, chăm sóc cho ông T1.

Về việc cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát, quan điểm của anh cũng không đồng ý vì ông H đã cao tuổi, việc thu chi trong việc chăm sóc cho ông T1 từ trước cho đến nay anh hoàn toàn không nắm được. Nếu Tòa án chấp nhận cử anh là người giám hộ, anh sẽ có trách nhiệm chăm sóc cho ông T1, không cần có người phải giám sát các khoản thu chi của việc chăm sóc vì đây là trách nhiệm của anh và những người con của ông T1.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị L trình bày: Bà là vợ ông T1, đồng thời là người giám hộ đương nhiên của ông T1 nhưng do tuổi cao sức yếu, bản thân lại ở xa nên bà từ chối quyền giám hộ đương nhiên cho ông Nguyễn Văn T1. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị B.

- Ông Nguyễn Duy H1, ông Nguyễn Thiên H, bà Nguyễn Thị L1 là anh chị em ruột công T1 trình bày: Năm 2022, ông T1 bị tai biến. Gia đình đưa đi bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu và điều trị cho đến nay, do bệnh nặng nên ông T1 đã tê liệt hoàn toàn, không nhận biết được gì, trở thành người thực vật, phải có người trông nom, chăm sóc 24/24. Tháng 6/2023, bà L đã làm thủ tục đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố ông T1 là người mất năng lực hành vi dân sự. Ngày 05/8/2023, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố ông T1 mất năng lực hành vi dân sự. Thời gian đầu ông T1 bị bệnh, anh T, bà Y có thăm nom và chăm sóc. Tuy nhiên, sau đó, bà Y, anh T không quan tâm, chăm sóc cho ông T1. Việc chăm nom ông T1 chủ yếu do ông H1 trực tiếp chăm sóc. Bà L sức

4

khỏe yếu nên chị B, anh Đ thay nhau chăm sóc và đóng góp chi phí điều trị cho ông T1. Vì bệnh nặng nên chi phí điều trị cho ông T1 từ 10/4/2022 cho đến nay đã hơn 900 triệu đồng số tiền này hoàn toàn phải đi vay mượn người thân, họ hàng. Gia đình có họp bàn để bán một phần diện tích thửa đất số 143, tờ bản đồ số 15 tại thôn P, xã P, huyện N để trang trải nợ nần cho ông T1 và tiếp tục điều trị, chăm sóc cho ông T1 trong những ngày cuối đời. Khi làm thủ tục công chứng, gia đình tôi được yêu cầu phải có người giám hộ, giám sát cho ông T1 mới có đủ điều kiện chuyển nhượng tài sản. Gia đình đã họp bàn để cử người giám hộ cho ông T1 nhưng không thống nhất được với nhau. Vì vậy, chị Nguyễn Thị B khởi kiện đề nghị Tòa án chỉ định người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 là chị Nguyễn Thị B - là con lớn nhất của ông T1 và cử người giám sát là ông Nguyễn Thiên H - anh ruột ông T1. Hiện là người giám sát do mọi chi phí cho ông T1 từ ngày 25/4/2022 cho đến nay ông H là người đảm nhiệm các ông bà hoàn toàn nhất trí. Không đồng ý cử anh T là người giám hộ vì anh T mặc dù ở gân nhưng không hề quan tâm, chăm sóc ông T1.

Lời khai của những người hàng xóm, trưởng thôn nơi ông T1 sinh sống đều thể hiện chị B con gái cả của ông T1 mặc dù ở xa nhưng thường xuyên về chăm sóc ông T1 còn anh T có chăm sóc hay không thì họ không biết.

- Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hồng đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị cử chị là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 (Nguyễn Hồng T2) vì chị đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về cử người giám hộ đương nhiên và cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ cho ông T2 vì ông H là anh ruột của ông T2, là anh cả trong gia đình, có tiếng nói trong dòng họ và là người quản lý chi tiêu đúng, đầy đủ có sổ sách rõ ràng từ trước đến nay. Không nhất trí cử anh T là người giám hộ vì anh T không hoàn thành trách nhiệm của một người con, không quan tâm, chăm sóc ông T2.

Anh Nguyễn Văn T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị B về việc cử chị Nguyễn Thị B là người giám hộ cho ông T2 vì chị B ở xa, không chấp nhận cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ vì ông H đã tuổi cao 85 tuổi, già yếu; có thể cử chị Nguyễn Thị B hoặc anh Nguyễn Văn Đ là người giám sát hoặc không cần người giám sát. Anh T đề nghị Tòa án cử anh là người giám hộ cho ông T2 vì anh là con ông T2, lại ở gần;

N, ông H1, ông H nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị B và đề nghị Tòa án cử chị Nguyễn Thị B là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 (Nguyễn Hồng T2) và cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ cho ông T2. Không nhất trí cử anh T là người giám hộ do anh T không đủ tư cách đạo đức để làm giám hộ cho ông T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách trình bày việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình thu thập chứng cứ, người tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của BLTTDS, người tham gia tố tụng: nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành

5

đúng quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết: Căn cứ Điều 47, 48, 49, 51, 53, 54 Bộ luật dân sự; khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B. Chỉ định chị Nguyễn Thị B là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác Nguyễn Hồng T2), sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương - người đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ định ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ.Người giám hộ, người giám sát việc giám hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp cử người giám hộ, giám sát”. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương. Căn cứ khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị L, anh Nguyễn Văn Đ đã có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: Nguyễn Hồng T2) bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 03/2023/QÐST-DS ngày 05/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách. Bố mẹ ông T2 là cụ Nguyễn Văn Q và cụ Nguyễn Thị K đã chết, vợ ông T2 là bà Dương Thị L, tuy nhiên, bà L từ chối là người giám hộ đương nhiên của ông T2. Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông T2 có 03 người con gồm chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1980 là con cả, anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985 là con thứ hai (chị B, anh Đ là con ông T2 với bà L) và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 là con thứ ba (Anh C là con riêng của ông T2 với bà Vũ Thị Y). Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Bộ luật Dân sự: “Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ

6

đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau: ...2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ”, chị Nguyễn Thị B là con cả của ông T2 có đầy đủ điều kiện theo quy định tại Điều 49 Bộ luật Dân sự để làm người giám hộ đương nhiên cho ông T2; cụ thể: Chị B là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có tư cách đạo đức tốt; không có tiền án, tiền sự và là người con gần gũi, chăm sóc ông T2 thường xuyên nhất trong những người con của ông T2. Mặt khác, theo các đương sự trong vụ án trình bày, trong thời gian ông T2 bị bệnh, mặc dù ở xa nhưng chị B vẫn thường xuyên về P, N để chăm sóc và đóng góp chi phí điều trị cho ông T2. Anh T cho rằng “Vì hiện tại ông H1 là em trai ông T2 đang chăm sóc có lấy tiền công chăm sóc là 15.000.000 đồng/tháng nên hàng ngày anh chỉ đi lại thăm ông T2, còn việc chăm sóc đã lấy tiền công thì ông H1 phải làm” là chưa phù hợp với nghĩa vụ làm con về việc chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của chị B là có căn cứ nên cần được chấp nhận, Hội đồng xét xử quyết định cử chị Nguyễn Thị B là người giám hộ của ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác Nguyễn Hồng T2). Việc cử người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 không ảnh hưởng đến nghĩa vụ chăm sóc ông T1 của những người con của ông T1 gồm chị B, anh Ð, anh T.

[3] Đối với yêu cầu khởi kiện của chị B về việc cử ông Nguyễn Thiên H (anh trai ông T1) là người giám sát việc giám hộ: Trong quá trình chăm sóc và điều trị cho ông Nguyễn Văn T1, ông H là người thay mặt chị B đứng ra theo dõi việc thu, chi các khoản tiền trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cho ông T1. Ông H là anh trai ruột lớn nhất của ông T1, hiện vẫn minh mẫn và có sức khỏe để thực hiện việc giám sát. Đa số người thân của ông T1 đều nhất trí để ông H là người giám sát việc giám hộ cho ông T1. Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật dân sự ông H có đủ điều kiện để là người giám sát việc giám hộ cho ông T1 và ông Nguyễn Thiên H nhất trí nhận là người giám sát việc giám hộ cho ông T1. Yêu cầu khởi kiện của chị B về việc cử ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ cho ông T1 có căn cứ chấp nhận.

Ông Nguyễn Duy H1 là em ruột của ông T1, hiện đang là người chăm sóc ông T1. Việc ông H1 đang chăm sóc ông T1 được tất cả anh chị em, con của ông T1 thừa nhận. Ông H1 không có yêu cầu, đề nghị gì về việc trông nom, chăm sóc ông T1 nên ông H1 được xác định là người làm chứng trong vụ án này.

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Nguyễn Thị B được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chị B được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai ký hiệu BLTU/23 số 0001329 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách. Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

7

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 47, 48, 49, 51, 53, 54 Bộ luật dân sự; khoản 14 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B.

    Chỉ định chị Nguyễn Thị B là người giám hộ cho ông Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác Nguyễn Hồng T2), sinh năm 1952; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Hải Dương - người đã bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

    Chỉ định ông Nguyễn Thiên H là người giám sát việc giám hộ.

    Người giám hộ, người giám sát việc giám hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23 số 0001329 ngày 29/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách. Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
  3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Nam Sách;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Sách;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Điệp

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp cử người giám hộ, giám sát

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp cử người giám hộ, giám sát
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị B - Nguyễn Văn T tranh chấp về việc cử ng giám hộ, giám sát
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger