Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày 24/5/2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đô.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Ba.

Bà Phạm Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2023/TLST-DS, ngày 30/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-DS, ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1982; người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thị Q: Chị Bùi Thị Quỳnh N, sinh năm 2002 (là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 28/12/2023); cùng nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Võ Trung Q1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
    2. Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 30/9/2023 của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Q và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị Quỳnh N là người đại diện hợp pháp của bà Huỳnh Thị Q trình bày:

Ngày 02/12/2022, bà Huỳnh Thị Q (sau đây viết tắt là bà Q) và ông Nguyễn Văn N1 (sau đây viết tắt là ông N1) ký kết hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2084, tờ bản đồ 5, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi (sau đây viết tắt là thửa đất số 2084), số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thời hạn đặt cọc là 40 ngày kể từ ngày 02/12/2022, tuy nhiên sau đó thỏa thuận thay đổi thời hạn đặt cọc là 30 ngày kể từ ngày 02/12/2022. Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì bà Q đã giao đủ số tiền đặt cọc cho ông Nghĩa là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Vài ngày sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì ông N1 gặp bà Q để yêu cầu bà Q đưa thêm số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nhưng bà Q chưa đồng ý và có yêu cầu ông N1 gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 2084 để bà Q kiểm tra; sau khi xem thì bà Q mới biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 2084 đứng tên ông Võ Trung Q1 (sau đây viết tắt là ông Q1), không phải là của ông N1, ngoài ra qua tìm hiểu thì bà Q biết thửa đất số 2084 còn bị thu hồi đất một phần nên bà Q không đồng ý đưa thêm tiền đặt cọc và có liên hệ với ông N1 để trao đổi với ông N1 về việc đẩy nhanh tiến độ sang tên quyền sử dụng đất cho bà Q, tuy nhiên ông N1 không hợp tác.

Khi hết thời hạn đặt cọc, mặc dù bà Q đã yêu cầu ông N1 trả lại tiền cọc nhưng ông N1 không thực hiện; bà Q cũng có đơn yêu cầu gửi Ủy ban nhân dân xã B giải quyết nhưng các bên không thỏa thuận được. Vì vậy, bà Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N1 trả cho bà Q tổng cộng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), trong đó tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và phạt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

* Theo nội dung biên bản làm việc ngày 15/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Văn N1 trình bày:

Giữa ông và bà Q có ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 để đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2084 và ông có nhận tiền cọc của bà Q là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) như bà Q đã trình bày. Tuy nhiên, công việc của ông là môi giới bất động sản và giữa ông Q1 với ông có mối quan hệ quen biết nên ngày 07/8/2022 ông Q1 có viết giấy thỏa thuận ủy quyền cho ông được quyền rao bán thửa đất số 2084. Thực hiện theo ủy quyền, ông đã giao kết hợp đồng đặt cọc với bà Q như đã nêu trên và ông đã giao lại tiền đặt cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho ông Q1, có chứng từ nhận tiền và có bà Huỳnh Thị H (sau đây viết tắt là bà H) chứng kiến.

Sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì giữa ông và bà Q không giao kết được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì chưa hết thời hạn đặt cọc thì bà Q đã liên hệ với ông và tới nhà ông Q1 đề nghị nhận lại số tiền đặt cọc, bà Q không muốn giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 2084.

Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Q vì bà Q không thực hiện việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng trong thời hạn đặt cọc theo thỏa thuận nên bà Q là người có lỗi; mặt khác, ông không sử dụng tiền đặt cọc và không được hưởng lợi gì từ giao dịch với bà Q nên ông không có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc cho bà Q.

* Theo nội dung bản tự khai ngày 16/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Trung Q1 trình bày:

Ngày 02/12/2022, ông và ông N1 có lập hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 2084 (thuộc quyền sử dụng đất của hộ gia đình ông), theo đó ông sẽ chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông N1 với giá 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), ông N1 đã đặt cọc cho ông số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và hẹn 15 ngày sau (tức là ngày 15/12/2022) thì ông N1 sẽ giao thêm tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), thời hạn đặt cọc là 30 ngày. Khi nào ông nhận đủ tiền cọc thì ông và ông N1 sẽ làm thủ tục ký kết, công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, còn nếu đến hẹn (ngày 15/02/2022) mà ông N1 không giao thêm số tiền

100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) như đã nêu thì ông N1 phải chịu mất số tiền đặt cọc.

Trong thời hạn đặt cọc thì ông N1 có nói là ông N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2084 để chuyển nhượng lại cho bà Q nhưng do bà Q không muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng nên ông N1 không trả thêm tiền đặt cọc cho ông theo thỏa thuận; ông N1 nói là bà Q không nhận chuyển nhượng đất, bỏ số tiền đã đặt cọc cho ông N1 nên ông N1 cũng phải bỏ số tiền đã đặt cọc cho ông.

Vì ông thường xuyên vắng nhà nên ngày 07/8/2022 ông có ủy quyền cho ông N1 với nội dung cho phép ông N1 giới thiệu, tìm kiếm người nhận chuyển nhượng đất đối với thửa đất số 2084. Trường hợp ông N1 tìm được người nhận chuyển nhượng thì ông sẽ trực tiếp ký kết hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng với người nhận chuyển nhượng chứ không phải ông N1; việc ông N1 đưa cho ông số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) là nhằm đảm bảo việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng đất thửa đất số 2084 giữa ông và ông N1, chứ không phải là ông N1 thực hiện theo giấy ủy quyền của ông như ông N1 đã trình bày.

Ngày 15/12/2022, không biết gì lý do gì mà bà Q có đến nhà ông để xin lại tiền đặt cọc, ông trả lời với bà Q là ông không giao dịch với bà Q, ông chỉ giao dịch đặt cọc với ông N1 nên ông không làm việc với bà Q về nội dung đặt cọc và chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ông xác định ông không có quyền lợi và nghĩa vụ trong sự việc tranh chấp giữa bà Q và ông N1; việc bà Q khởi kiện yêu cầu ông N1 trả cho bà Q số tiền đặt cọc, phạt cọc tổng cộng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) thì ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Theo nội dung bản tự khai ngày 16/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị H trình bày:

Bà làm nghề môi giới đất đai nên năm 2022 bà Q có nhờ bà tìm kiếm, giới thiệu cho bà Q một diện tích đất để bà Q xây dựng tiệm trang điểm cho con gái bà Q. Thời điểm này, bà nghe ông N1 nói với bà là ông Q1 nhờ ông N1 đăng tin rao bán giúp thửa đất số 2084 nên bà có giới thiệu cho bà Q tìm hiểu thửa đất số 2084. Ngày 02/12/2022, bà Q và ông N1 có ký kết hợp đồng đặt cọc với nhau như bà Q và ông N1 đã trình bày. Tuy nhiên, khoảng 01 tuần sau khi đặt cọc thì bà Q liên hệ với bà và thông báo là bà Q không nhận

chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2084. Bà có trao đổi với ông Nghĩa 1 bà Q không nhận chuyển nhượng thửa đất số 2084, xin lại tiền cọc và bà cũng có trao đổi với bà Q là chưa hết thời hạn đặt cọc mà bà Q xin lại thì chủ sử dụng đất sẽ không cho lại; sau đó bà Q trực tiếp đến nhà ông Q1 để xin lại tiền đặt cọc nhưng ông Q1 không đồng ý nên bà Q đến nhà ông N1 đòi lại tiền cọc, giữa bà Q và ông N1 xảy ra tranh chấp với nhau.

Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q thì bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; bà chỉ là người chứng kiến việc giao dịch hợp đồng đặt cọc giữa ông N1 và bà Q, bà không có liên quan gì đến tranh chấp giữa bà Q và ông N1.

* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục phiên tòa; các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 117, Điều 328, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Q về tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn là ông N1, buộc ông N1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Q số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q về việc buộc ông N1 phải phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng); bà Q và ông N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Theo trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định thửa đất số 2084 đã được UBND huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ Trung Q1 vào ngày 11/12/2004.

[2] Bà Q và ông N1 đều thừa nhận giữa bà Q và ông N1 có ký kết Hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 nhằm mục đích đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2084, theo nội dung hợp đồng đặt cọc này thể hiện ông N1 sẽ chuyển nhượng cho bà Q thửa đất số 2084 với giá chuyển nhượng là 1.638.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm ba mươi tám triệu đồng), thời hạn đặt cọc là 40 ngày nhưng sau đó thỏa thuận lại thời hạn bà Q phải giao đủ số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 30 ngày kể từ ngày 02/12/2022; ngay sau khi ký hợp đồng đặt cọc thì ông N1 đã nhận cọc của bà Q số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 giữa bà Q và ông Nghĩa 1 tự nguyện và tuân thủ đúng quy định về điều kiện chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 117, khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng này có hiệu lực pháp luật.

[3] Bà Q yêu cầu ông N1 trả số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) với lý do trong thời hạn đặt cọc thì ông N1 không thực hiện các thủ tục để chuyển quyền sử dụng đất cho bà Q; trong khi đó ông N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Q vì cho rằng bà Q là người có lỗi khi không giao kết hợp đồng chuyển nhượng theo thỏa thuận đặt cọc và ông giao kết hợp đồng đặt cọc với bà Q là thực hiện theo ủy quyền của ông Q1, sau khi nhận tiền đặt cọc 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) của bà Q thì ông đã đưa cho ông Q1, ông không sử dụng tiền đặt cọc, không được hưởng lợi gì từ giao dịch với bà Q nên ông không có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc cho bà Q.

Xem xét yêu cầu khởi kiện của bà Q và ý kiến phản đối của ông N1, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Theo giấy thỏa thuận ủy quyền ngày 07/8/2022 thể hiện nội dung ông Q1 ủy quyền cho ông N1 đứng ra thay ông Q1 rao bán thửa đất số 2084. Theo ông Q1 trình bày thì do ông Q1 thường xuyên vắng nhà nên có lập văn bản ủy quyền ngày 07/8/2022 để ông N1 tìm kiếm người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 2084, còn việc giao kết đặt cọc, chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông Q1 sẽ trực tiếp thực hiện; ông Q1 không thừa nhận việc ông N1 giao số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) cho ông Q1 là thực hiện theo ủy quyền như ông N1 trình bày.

Theo nội dung hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 giữa ông N1 và bà Q thể hiện rõ đây là giao dịch giữa ông N1 và bà Q, không có nội dung ông N1 thực hiện theo ủy quyền của ông Q1 trong việc giao kết và nhận tiền đặt cọc. Trên thực tế, sau khi ông N1 ký kết hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 với bà Q thì giữa ông Q1 và ông N1 có ký kết hợp đồng đặt cọc cũng trong ngày

02/12/2022, theo nội dung đặt cọc giữa ông Q1 và ông N1 thì ông Q1 sẽ chuyển nhượng cho ông N1 thửa đất số 2084 với giá 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng) và có một số nội dung thỏa thuận không giống với nội dung hợp đồng đặt cọc giữa bà Q và ông N1. Điều đó, thể hiện giữa ông Q1 và ông N1 đã xác lập giao dịch đặt cọc với nhau và giao dịch này là độc lập với giao dịch đặt cọc giữa bà Q và ông N1. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N1 không tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông N1 ký kết hợp đồng đặt cọc với bà Q và đưa số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) là thực hiện theo thỏa thuận trong giấy ủy quyền ngày 07/8/2022 nên không có cơ sở chấp nhận nội dung trình bày của ông N1 về việc ông Q1 ủy quyền cho ông N1 ký kết, nhận tiền đặt cọc với bà Q.

Giữa ông N1 và bà Q đã xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trong hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và những cam kết, thỏa thuận đã nêu không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực thực hiện đối với ông N1 và bà Q.

[3.2] Theo thỏa thuận tại Điều 5 trong hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 thì ông N1 phải có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục để hoàn thành việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Q. Tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng đặt cọc thì thửa đất số 2084 thuộc quyền sử dụng đất của ông Q1 nhưng trong hợp đồng đặt cọc thì ông N1 cung cấp, ghi thông tin thửa đất 2084 thuộc quyền sử dụng của ông Nghĩa 1 không đúng thực tế và thời điểm này quyền sử dụng đất thửa đất số 2084 đang được ông Q1 dùng để đảm bảo khoản vay tại tổ chức tín dụng. Trong thời hạn đặt cọc, ông N1 không thực hiện các thủ tục để đảm bảo việc chuyển quyền sử dụng đất cho bà Q theo nội dung đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc. Tính hết thời hạn đặt cọc là 30 ngày và kể cả là 40 ngày theo thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc thì thửa đất số 2084 vẫn thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Q1 và quyền sử dụng đất này vẫn chưa xóa đăng ký thế chấp nên không đảm bảo điều kiện để thực hiện giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa bà Q và ông N1; bên cạnh đó, ông N1 yêu cầu bà Q đưa thêm tiền đặt cọc là không đúng với thỏa thuận ban đầu của các bên. Vì vậy, ông N1 có lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được giao kết theo thỏa thuận.

[3.3] Theo thừa nhận của bà Q thì khi giao kết hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 với ông N1, bà Q đã không tìm hiểu kỹ các thông tin về quyền sử dụng đất thửa đất số 2084 như thông tin về chủ sử dụng đất, việc thu hồi một phần thửa đất nên trong thời hạn đặt cọc giữa bà Q và ông N1 có mâu thuẫn

với nhau về nội dung liên quan đến giấy tờ và diện tích sử dụng đất. Ông N1, ông Q1 và bà H xác định trong thời hạn đặt cọc bà Q có liên hệ với những người này để yêu cầu được nhận lại tiền cọc và theo trình bày của các đương sự thì vào ngày thứ 30 sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì giữa bà Q và ông N1 có trao đổi, thỏa thuận sẽ đến văn phòng công chứng để giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng trong khi chờ đợi tại Công an xã B để nhận xác nhận thông tin cư trú để đến văn phòng công chứng thì bà Q thay đổi ý kiến, không muốn giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên các bên xảy ra mâu thuẫn và không thực hiện được việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; đến ngày 03/01/2023, bà Q đã gửi đơn tranh chấp với ông N1 tại Ủy ban nhân dân xã B đã thể hiện bà Q thiếu thiện chí trong thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của mình và có sự thay đổi về ý chí giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì vậy, bà Q cũng có lỗi làm cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không được giao kết theo thỏa thuận.

[3.4] Như đã nhận định nêu trên, việc không giao kết được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận đặt cọc ngày 02/12/2022 đều do lỗi của ông N1 và bà Q nên căn cứ quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Q về việc yêu cầu ông N1 trả lại số tiền cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q về việc phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q1 yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết chấm dứt hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2022 giữa ông Q1 và ông N1, theo đó ông không có nghĩa vụ hoàn trả cho ông N1 số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Tòa án đã làm việc, hướng dẫn và thông báo cho ông Q1 thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định để Tòa án xem xét, giải quyết yêu cầu này của ông Q1 trong cùng một vụ án nhưng ông Q1 không thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, ông Q1 cho rằng ông N1 đã khẳng định từ bỏ tiền đã đặt cọc theo hợp đồng đặt cọc được ký kết giữa ông và ông N1 nên ông không có tranh chấp hợp đồng đặt cọc với ông N1 trong vụ án này.

Căn cứ quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết theo phạm vi đơn khởi kiện của bà Q về tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà Q và ông N1 mà không xem xét, giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa ông Q1 và ông N1 trong vụ án này. Trong trường hợp có

tranh chấp về hợp đồng đặt cọc ngày 02/12/2024 được giao kết giữa ông Q1 và ông N1 thì ông Q1, ông N1 có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

[5.1] Yêu cầu khởi kiện của bà Q được chấp nhận là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) nên ông N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

[5.2] Yêu cầu khởi kiện của bà Q không được chấp nhận là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) nên bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà bà Q đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ các Điều 3, 117, Điều 328, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Q về tranh chấp hợp đồng đặt cọc đối với bị đơn là ông Nguyễn Văn N1.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn N1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Q số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Q về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn N1 phải trả số tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
  2. Buộc bà Huỳnh Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) mà bà Huỳnh Thị Q đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000187 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  3. Buộc ông Nguyễn Văn N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Bình Sơn;
  • - CCTHADS huyện Bình Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Đô

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger