Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 07/2024/DS-ST

Ngày 24 - 4 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hậu

Ông Nguyễn Mạnh Hớn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Ngọc Ánh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện B.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Dương Xuân Chính - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2023/TLST- DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-DS 16 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2024/QĐĐST – DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C;

Địa chỉ trụ sở: Số 169 phố L, phường H, quận M, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th, chức vụ: Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị M, chức vụ: Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C “có mặt”;

Địa chỉ: thôn K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước;

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1976 “vắng mặt”;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1996 “vắng mặt”;

Cùng cư trú: Thôn Đ, xã Ơ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 03 tháng 10 năm 2023 và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị M trình bày:

Ngày 14/11/2014, Ngân hàng C- phòng giao dịch huyện B cho hộ bà Nguyễn Thị Th vay tổng số tiền 49.500.000 đồng. Khoản vay theo tín chấp chương trình cho vay học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo số lưu tờ rơi theo dõi cho vay-thu nợ dư nợ số 6600000702915076 ngày 14/11/2014, với lãi suất trong hạn là 0,6%/tháng; lãi quá hạn là 0,78%/tháng, phương thức thanh toán 6 tháng/lần, thời hạn vay là 69 tháng theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay. Quá trình vay cho đến ngày khởi kiện, hộ bà Th chưa thanh toán bất kỳ số tiền nợ gốc nào và tiền lãi đã thanh toán được là 3.084.011 đồng. Số tiền lãi chưa thanh toán tính đến ngày 24 tháng 4 năm 2024 là 24.536.838 đồng.

Như vậy, hộ bà Th còn nợ Ngân hàng với tổng số tiền gốc là 49.500.000 đồng và tiền lãi chưa trả là 24.536.838 đồng nhưng không có thiện chí trả mặc dù đại diện của Ngân hàng có thông báo trả nợ cũng như làm việc trực tiếp với hộ bà Th nhiều lần.

Nay, Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Đức L phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc đã vay là 49.500.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 24/4/2024 là 24.536.838 đồng và tiền lãi phát sinh trên tổng số tiền nợ gốc chưa trả từ ngày 25/4/2024 đến ngày khách hàng trả hết toàn bộ nợ gốc và lãi cho ngân hàng với mức lãi suất quá hạn theo quy định của ngân hàng.

2. Tại biên bản lấy lời khai ngày 15 tháng 11 năm 2023, bị đơn bà Nguyễn Thị Th trình bày:

Bà Th đồng ý với nội dung đơn khởi kiện của Ngân hàng C. Bà Th đồng ý trả nợ cho Ngân hàng nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà xin được trả 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi hết nợ.

3. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức L vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Về các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Các vấn đề khác giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Toà án: Ngân hàng C khởi kiện bà Nguyễn Thị Th thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Đây là tranh chấp phát sinh trong việc giao kết hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại xã Ơ, huyện B, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức L đã được Toà án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định tại điều 179 nhưng vẫn vắng mặt lần hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Xét yêu cầu đòi nợ gốc:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng ký kết giữa Ngân hàng C - phòng giao dịch huyện B với bà Nguyễn Thị Th; sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ của Ngân hàng C; lời trình bày của bà Vũ Thị M - người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã có cơ sở để khẳng định: Ngân hàng C có cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Th vay tiền theo chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cụ thể các lần như sau: Ngày 14 tháng 11 năm 2014, Ngân hàng chính sách Việt Nam xét duyệt cho hộ bà Th vay số tiền 11.000.000 đồng; ngày 09 tháng 10 năm 2015, Ngân hàng xét duyệt cho hộ bà Th vay số tiền 11.000.000 đồng; ngày 27 tháng 10 năm 2016, Ngân hàng xét duyệt cho hộ bà Th vay số tiền 12.500.000 đồng và ngày 09 tháng 11 năm 2017, Ngân hàng xét duyệt cho hộ bà Th vay số tiền 15.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc Ngân hàng C cho hộ bà Th vay là 49.500.000 đồng. Thỏa thuận lãi suất trong hạn là 0,6%/tháng; lãi suất quá hạn là 0,78%/tháng, phương thức thanh toán 6 tháng/lần, thời hạn trả tiền của các khoản vay là ngày 09 tháng 5 năm 2023. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, hộ bà Th chưa trả cho Ngân hàng chính sách Việt Nam số tiền gốc khi đến hạn trả nợ và đến nay đã quá hạn thời hạn trả nợ tiền gốc nhưng hộ gia đình bà Th không có thiện chí trả nợ tiền vay. Mặc dù, bị đơn bà Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L không có mặt tại phiên toà nhưng căn cứ vào Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng C và lời khai thừa nhận của bà Th. Xét thấy, bị đơn bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu đòi nợ gốc của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L có nghĩa vụ liên đới trả tiền nợ gốc còn lại của các khoản vay là 49.500.000 đồng cho Ngân hàng chính sách Việt Nam theo quy định tại điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015.

[2.2] Đối với yêu cầu đòi tiền lãi: Xét yêu cầu của nguyên đơn về số tiền lãi bị đơn bà Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L phải trả theo hợp hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày 24/4/2024 là 24.536.838 đồng đồng là phù hợp với sự thoả thuận giữa các bên trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết và các quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền gốc và tiền lãi bị đơn bà Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông ông L có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng chính sách Việt Nam tính đến ngày 24/4/2024 là 74.036.838 đồng (Trong đó: gốc là 49.500.000 đồng, tiền lãi là 24.536.838 đồng).

[2.3] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi phát sinh trên nợ gốc từ ngày 25/4/2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi suất được các bên thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp với thoả thuận của hai bên và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí. Mức án phí được quy định như sau: Đối với giá trị tài sản có tranh chấp từ trên 6.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng, mức án phí là 5% giá trị tài sản có tranh chấp.

Do đó, bị đơn phải chịu tiền án phí là: 74.036.838 đồng x 5% = 3.701.841 đồng (Ba triệu bảy trăm L một nghìn tám trăm bốn mươi mốt đồng).

Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40, khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 117, 119, 280, 357, 466 của Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn Ngân hàng C.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Th và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức L có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền 74.036.838 đồng (Trong đó: tiền nợ gốc là 49.500.000 đồng, tiền nợ lãi là 24.536.838 đồng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.701. 841 đồng bà Nguyễn Thị Th và ông Nguyễn Đức L phải liên đới chịu.

3. Về nghĩa vụ thi hành án:

3.1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự văng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND H. Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS H. Bù Gia Mập;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 07/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tiền không trả
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger