|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 07/2024/HNGĐ – ST Ngày: 23 tháng 5 năm 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Hồng Đào và ông Hà Đức Trưởng;
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng T – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024.
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 25/9/1994 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu Đ, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nơi ở hiện tại: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;
Bị đơn: Anh Phùng Đức T1, sinh ngày 03/12/1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khu Đ, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2024 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 18/7/2013, chị và anh Phùng Đức T1 đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến gia đình không hòa thuận, hạnh phúc.
Anh, chị đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, cho chị ly hôn với anh T1.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu: Phùng Thị Ngọc A, sinh ngày 18/02/2016 và cháu Phùng Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/9/2018. Hiện cháu Ngọc A đang ở cùng với bố, cháu T2 ở cùng với chị, khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cháu Ngọc A cho anh T1, giao cháu Ngọc T2 cho chị trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với nhau.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía bị đơn anh Phùng Đức T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn vợ chồng anh có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Anh T1 xác nhận thời điểm đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, thời gian ly thân như chị N trình bày là đúng. Nay chị N xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh T1 xác nhận vợ chồng có con chung là cháu: Phùng Thị Ngọc A, sinh ngày 18/02/2016 và cháu Phùng Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/9/2018, khi ly hôn anh đồng ý với quan điểm của chị N về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật;
Về nội dung giải quyết vụ án: Anh T1 và chị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T1 và chị N là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh T1 và chị N. Về con chung: đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình ghi nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự, giao cháu: Phùng Thị Ngọc A, sinh ngày 18/02/2016 cho anh T1 và giao cháu Phùng Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/9/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên; hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Đối với quan hệ về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn, Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, anh T1, chị N phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị N có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ cho chị ly hôn với anh T1, căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn đề nghị xin được vắng mặt tại phiên họp, hòa giải và phiên xét xử, Bị đơn có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên xét xử. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh T1, chị N đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào, khoản 1, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 và chị N trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 18/7/2013, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ tại nơi Bị đơn cư trú, Tòa án đã làm rõ vợ chồng anh, chị đã ly thân, hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Bên cạnh đó, anh T1, chị N cũng xác nhận vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay, cùng có yêu cầu xin được ly hôn.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh T1, chị N đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận việc yêu cầu xin ly hôn của chị N và anh T1 là phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh, chị có 02 (hai) con chung là cháu: Phùng Thị Ngọc A, sinh ngày 18/02/2016 và cháu Phùng Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/9/2018. Tòa án đã xem xét, lấy ý kiến của chính quyền địa phương, khu dân cư nơi đương sự đăng ký nhân khẩu thường trú, đã làm rõ hiện cháu Ngọc A đang ở cùng anh T1, cháu Ngọc T2 ở cùng chị N, bên cạnh đó, bản thân cháu Ngọc A cũng có nguyện vọng ở cùng với ông bà nội và anh T1, tiếp đó, anh T1 và chị N cũng đều thống nhất mỗi người sẽ nuôi một cháu đến khi các cháu thành niên; hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Vì vậy, căn cứ vào những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận thỏa thuận về việc nuôi con của anh T1, chị N là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khi anh T1, chị N có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh T1, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này; khi anh, chị phát sinh yêu cầu thì anh, chị có quyền được giải quyết bằng một vụ, việc khác.
[5]. Về án phí: Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 và hướng dẫn tại tiết 11, mục IV của văn bản số: 02/TANDTC – PC ngày 02 tháng 8 năm 2021 thì anh T1, chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm tương ứng như trường hợp các bên thuận tình ly hôn.
[6]. Về quyền kháng cáo: Anh T1 và chị N có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 khoản 4, Điều 147, khoản 1, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 và khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Căn cứ vào điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phùng Đức T1;
- Về con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phùng Đức T1, giao cháu Phùng Thị Ngọc A, sinh ngày 18/02/2016 cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên; giao cháu Phùng Thị Ngọc T2, sinh ngày 13/9/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên; anh T1, chị N không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
- Về Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N và anh Phùng Đức T1 mỗi người phải chịu 75.000VNĐ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị N đã nộp 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: 0004652 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Nay được chuyển thành án phí, trả lại cho chị Nguyễn Thị N 225.000 VNĐ (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Anh T1, chị N có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tân Khải Nhân |
Bản án số 07/2024/HNGĐ – ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 07/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án chị N ly hôn anh T
