|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA Bản án số: 07/2023/HS-ST Ngày 22-11-2023. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Ngọc Thương.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết.
2. Ông Sa Văn Linh.
Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa:
Ông Trần Hữu Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Mùa Thị V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: bản H, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Mùa A L; Sinh năm 1969 và bà Giàng Thị M; Sinh năm 1970; Chồng: Thào A N, sinh năm 1984 và 04 con, con lớn nhất 20 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi; ; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam giữ từ ngày 31/8/2023 đến ngày 09/9/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người phiên dịch: Thào A C; Địa chỉ: Bản V, thị trấn B, huyện B, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 30/8/2023, Mùa Thị V đi bộ từ nhà tại bản H, xã H, huyện B đi bản Làng Sáng, xã H tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân nghiện hút. Khi đi đến bản Làng Sáng, do trời tối nên V ngủ lại ở 01 nhà bỏ hoang ở bản Làng Sáng. Đến sáng ngày 31/8/2023, V đi bộ theo đường dân sinh vào bản Làng Sáng gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đi bộ ngược chiều, V hỏi và mua được 01 gói nilon màu hồng và 01 gói nilon màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa Heroine với giá 100.000 đồng của người đàn ông. Mua bán xong, người đàn ông đi đâu V không biết, V cất 02 gói ma túy vừa mua được vào 01 lọ nhựa màu xanh lá cây đem theo từ trước, cất lọ nhựa chứa ma túy vào túi vải V đang đeo trên người rồi đi bộ về nhà, trên đường về thì gặp tổ công tác Công an huyện B phối hợp với Công an xã H làm nhiệm vụ kiểm tra và phát hiện 02 gói ma túy, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Về vật chứng của vụ án gồm: 01 gói nilon màu hồng và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là heroine; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh lá cây có nắp đậy; 01 túi vải hình chữ nhật hoa văn.
Ngày 31/8/2023, CQCSĐT Công an huyện B đã phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện B tiến hành mở niêm phong cân tịnh khối lượng ma túy thu giữ được của Mùa Thị V. Kết quả: Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,117 gam lấy mẫu ký hiệu V1, số chất bột màu trắng trong gói nilon màu hồng có khối lượng 0,049 gam lấy mẫu ký hiệu V2. Tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ từ V là 0,166 gam. Cơ quan CSĐT Công an huyện B niêm phong vật chứng và ra QĐ trưng cầu giám định số 77, trưng cầu Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La giám định.
Ngày 05/9/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành bản Kết luận giám định số 2138/KL-KTHS, kết luận: “Mẫu ký hiệu V1 và V2 gửi giám định đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là V1 = 0,117 gam; V2 = 0,049 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,166 gam; loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Tại phiên tòa công khai bị cáo Mùa Thị V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSBY ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Mùa Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Mùa Thị V mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành bên trong gồm 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh lá cây có nắp đậy; 01 túi vải hình chữ nhật hoa văn kích thước dài 18cm, rộng 10cm có hai ngăn khóa séc, có dây đeo. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị V.
Ý kiến của bị cáo Mùa Thị V tự bào chữa: Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, mong hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Mùa Thị V, có đủ cơ sở để khẳng định:
Khoảng 06 giờ ngày 31/8/2023, Mùa Thị V đã có hành vi đi mua 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,166 gam với giá 100.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở khu vực bản Làng Sáng, xã H với mục đích mang về để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 07 giờ 30 phút, trên đường về nhà Mùa Thị V bị tổ công tác công an xã H, huyện B phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tiến hành cân tịnh và giám định chất ma túy thu được của bị cáo Mùa Thị V kết quả giám định “là ma túy, loại Heroine”, khối lượng ma túy thu giữ là 0,166 gam.
Xét hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân.
Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Mùa Thị V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Heroine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...".
như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo Mùa Thị V: Bị cáo đã đi mua và cất giấu trái phép 0,166 gam Heroine để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mùa Thị V: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Nên bị cáo Mùa Thị V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Đồng thời cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.
[6] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình thuộc diện hộ nghèo của xã H, huyện B, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành bên trong gồm 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh lá cây có nắp đậy; 01 túi vải hình chữ nhật hoa văn kích thước dài 18cm, rộng 10cm có hai ngăn khóa séc, có dây đeo là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.
[9] Đối với nguồn gốc Heroine bị cáo Mùa Thị V khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông ở khu vực bản Làng Sáng, xã H, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.
[10] Về án phí: Theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì bị cáo Mùa Thị V là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã H, huyện B, tỉnh Sơn La là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Gia đình bị cáo Mùa Thị V là hộ nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy Tòa cần xem xét miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Mùa Thị V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mùa Thị V 15 (Mười lăm) tháng tù được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 31/8/2023 đến ngày 09/9/2023. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì do Công an huyện B phát hành bên trong gồm 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 lọ nhựa hình trụ màu xanh lá cây có nắp đậy; 01 túi vải hình chữ nhật hoa văn kích thước dài 18cm, rộng 10cm có hai ngăn khóa séc, có dây đeo (số vật chứng trên đã được niêm phong).
(Chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B ngày 03/11/2023).
3. Về Án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa Thị V.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Ngọc Thương |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN Sa Văn Linh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Thị Tuyết |
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cầm Ngọc Thương |
Bản án số 07/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 07/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Mùa Thị V - Tàng trữ trái phép chất ma túy
