Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC DƯƠNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 21 - 5 - 2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Phạm Phương Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Cil Gluin

- Bà Rơ Ông Đi Na

-

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.

-

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 73/2023/TLST – HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST – HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

-

Nguyên đơn: Chị Liêng Hót K' Sor, sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

-

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 08 tháng 12 năm 2023; bản tự khai và biên bản lấy lời khai của chị L Hót K’Sor trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, dựa trên cơ sở tìm hiểu nhau. Vợ chồng chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không hiểu nhau, anh Đ có sử dụng ma tuý và phải chấp hành án phạt tù, đến năm 2023 thì chấp hành xong hình phạt tù, khi trở về địa phương, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ.

Hơn 01 tháng trở lại đây (từ tháng 01/2024) thì anh Đ không có mặt tại địa phương, hiện nay anh Đ ở đâu, làm gì thì chị không biết thông tin của anh Đ nên chị không thể cung cấp cho Tòa án.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là: Nguyễn Liêng Hót Đình V, sinh ngày 18/9/2018. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho đến khi con trưởng thành và không yêu cầu anh Nguyễn Văn Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra chị có 01 con riêng là Liêng Hót K' Điệp, sinh ngày 21/12/2012, đây là con riêng của chị, chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Đối với anh Nguyễn Văn Đ: Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã gửi cho anh các văn bản tố tụng theo địa chỉ nơi anh Đ và chị S cư trú. Tuy nhiên, anh Đ vắng mặt thường xuyên tại nơi cư trú, không đến Toà án làm việc nên không có được lời trình bày của anh Đ trong hồ sơ vụ án.

Toà án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Đ biết, để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đồng thời Toà án cũng không tiến hành hoà giải được, với lý do: Anh Đ vắng mặt.

Tại Phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai của Toà án; còn bị đơn thì vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không có ý kiến gì.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Liêng Hót K' Sor được ly hôn với anh Nguyễn Văn Đ. Giao con chung là cháu Nguyễn Liêng Hót Đình V, sinh ngày 18/9/2018 cho chị L Hót K' Sor trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Liêng Hót K' Sor phải chịu tiền án hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của chị L Hót K' Sor đối với anh Nguyễn Văn Đ là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình. Bị đơn là anh Nguyễn Văn Đ, cư trú tại xã Đ, huyện L (theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt (vắng lần thứ hai), còn nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 33/2018, ngày 29 tháng 6 năm 2018 của UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Liêng Hót K1 và anh Nguyễn Văn Đ là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về yêu cầu xin ly hôn của chị Liêng Hót K1: Theo kết quả xác minh của Toà án về nơi cư trú của anh Đ tại Công an xã Đ, huyện L và trưởng thôn 5, xã Đ, huyện L thì: Anh Nguyễn Văn Đ đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn E, xã Đ, huyện L. Chị S xác định, từ khi anh Đ chấp hành án phạt tù xong và trở về địa phương thì vợ chồng không sống chung với nhau, gặp nhau thường xuyên cãi nhau, từ tháng 01/2024 anh Đ không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì, ở đâu chị không biết là phù hợp với kết quả xác minh của Toà án.

Xét thấy, mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị S và anh Đ đã trầm trọng, chị S cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở để xem xét.

[4]. Về con chung: Theo chị K' Sor trình bày, chị và anh Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Liêng Hót Đình V, sinh ngày 18/9/2018; lời trình của chị S phù hợp với kết quả xác minh của Toà án tại Tư pháp xã Đ và Hội phụ nữ xã Đ, huyện L thì hiện nay cháu Nguyễn Liêng Hót Đình V đang do chị K' Sor nuôi dưỡng nên tiếp tục giao con cho chị nuôi dưỡng, để đảm bảo sự phát triển của cháu. Chị K' Sor không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận nội dung này.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị K' Sor xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu xem xét, giải quyết; về phía anh Đ, không có lời khai nên Hội Đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: Chị Liêng Hót K' Sor phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 51, 54, 55, 57 và Điều 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Liêng Hót K' Sor: Chị Liêng Hót K' Sor và anh Nguyễn Văn Đ, được ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Liêng Hót Đình V, sinh ngày 18/9/2018 cho chị L Hót K' Sor trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Chị Liêng Hót K' Sor phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị S đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002020 ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương (chị K' Sor đã nộp đủ).

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Lạc Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Lạc Dương;
  • - UBND xã Đa Sar, huyện Lạc Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phương Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2024/HNGĐ - ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 07/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Liêng Hót K Sor - Nguyễn Văn Đạo (Ly hôn)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger