|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 107/2025/HS-ST Ngày: 03-4-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoài Đức Huệ;
Bà Lê Thị Kim Xuyến.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Đình Linh Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/HSST-QĐ ngày 21/3/2025 đối với bị cáo:
Phan Văn H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1970, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú (chỗ ở): Ấp Thị C, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 00/12; Nghề nghiệp: Không; Con Phan Văn H1 (đã chết), con bà Trần Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thùy T và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1997, con nhỏ nhất sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2024 đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Đức N; Sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 28/9/2024, Nguyễn Đức N và Phan Văn H có xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến xô xát tại bãi đất trống thuộc ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, H chạy nhà lấy 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm cầm đi đến chỗ của N, thấy H cầm dao tiến tới, N nhặt 01 khúc gỗ dài khoảng 01m nằm cạnh vị trí Nhuận đang đứng và tiếp tục cãi vã, thách thức nhau. Sau đó, N dùng khúc gỗ đánh trúng vào tay trái của H, còn H dùng tay phải cầm dao chém vào tay trái của N gây thương tích, sau khi gây thương tích Nhuận được người nhà đưa đi cấp cứu.
Đến ngày 30/9/2024, anh Nguyễn Đức N đến Công an xã P, huyện N có đơn yêu cầu khởi tố, Công an xã P lập hồ sơ xử lý.
Quá trình điều tra, bị cáo Phan Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm.
*Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1167/KLTTCT-TTPYĐN ngày 25/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Đức N tại thời điểm giám định là 13% (mười ba phần trăm), vật gây thương tích là vật sắc nhọn.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức N yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí khám chữa bệnh với số tiền 17.000.000 đồng. Bị cáo H chưa bồi thường cho bị hại.
Tại Cáo trạng số 109/CT-VKSNT, ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Phan Văn H về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 năm tù; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố; hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên lời khai của người này đã có trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Vào lúc 10 giờ ngày 28/9/2024, tại ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Phan Văn H có hành vi dùng 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm, gây thương tích cho Nguyễn Đức N, với tỷ lệ thương tật là 13%. Do đó, bị cáo: Phan Văn H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra, cần có biện pháp xử phạt thích hợp nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Trong vụ án có một phần lỗi thuộc về bị hại. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu huỷ đối với 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm là công cụ dùng vào việc phạm tội .
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Đức N yêu cầu bị cáo H bồi thường chi phí khám chữa bệnh với số tiền 17.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên ghi nhận: Bị cáo H có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Đức N chi phí khám chữa bệnh với số tiền 17.000.000 đồng.
[7] Về điều luật, tội danh, mức án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Xét ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng và không có ý kiến tranh luận gì về tội danh cũng như về hình phạt, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng của Bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cần buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 326, Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo: Phan Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn H: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Căn cứ các Điều 280, 357, 468, 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự 2015.
Buộc bị cáo Phan Văn H phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Đức N số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 con dao tự chế cán bằng gỗ dài khoảng 15cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 40cm.
(Vật chứng nêu trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch theo quyết định chuyển vật chứng số 73/VC-VKSNT ngày 03-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10 tháng 3 năm 2025.)
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 850.000đ (tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Phan Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đại |
Bản án số 107/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 107/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”
