Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/KDTM-PT

Ngày 19/6/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

mua bán điện”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công.

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình

Bà Trần Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 01/2025/TLPT-KDTM ngày 21 tháng 02 năm 2025 về "Tranh chấp hợp mua bán điện".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2022/DS-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 54/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn S; địa chỉ: số F đường D, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Mộng H - Chức vụ: Giám đốc Công ty. Có mặt.

1.2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn N; địa chỉ: Buôn D, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị Mộng H - Chức vụ: Giám đốc Công ty. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Nguyễn Quốc H1 - Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Quốc H1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: tầng E CF T, G P, phường F, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Ông Phan Văn H2 - Luật sư của Công ty L1 - Chi nhánh G; địa chỉ: G A, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Tổng công ty Đ; địa chỉ: số G A đường D, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Duy L - Chức vụ: Phó Trưởng Ban pháp chế - EVNPC và ông Võ Ngọc Q - Chức vụ: Phó Giám đốc Công ty Đ1 (Văn bản ủy quyền số 1214/2022-BM/VP ngày 28/6/2022). Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Công ty Đ1; địa chỉ: số F đường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quang V - Chức vụ: Trưởng phòng Thanh tra bảo vệ pháp chế - Công ty Đ1 (Văn bản ủy quyền số 1150/UQ-GLPC ngày 22/3/2022). Có mặt.

3.2. Điện lực K; địa chỉ: số B đường H, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chấn T - Chức vụ: Giám đốc Điện lực K. Có mặt.

4. Người kháng cáo: Bị đơn Tổng công ty Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn trình bày:

Ngày 26/12/2020, H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 đã ký Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà số 20/000486-PC10DD0522211 với Tổng Công ty Đ làm đại diện theo ủy quyền. Ngày 13/11/2021, H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 ký thỏa thuận với Tổng Công ty Đ thay đổi chủ thể Bên bán điện trong hợp đồng sang Công ty Trách nhiệm hữu hạn S (sau đây viết tắt là C). Cùng ngày 26/12/2020, Công ty Trách nhiệm hữu hạn N (sau đây viết tắt là C1) đã ký hợp đồng mua bán điện cho cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số 20/000479-PC10DD0522201 với Tổng Công ty Đ do Công ty Đ1 đại diện theo ủy quyền. Hai hợp đồng mua bán điện nêu trên đều có hiệu lực và thời hạn từ ngày 26/12/2020 đến ngày 26/12/2040.

Tại Điều 1 và Điều 5 của hai Hợp đồng mua bán điện nêu trên quy định cụ thể:

Điều 1: Bên A (C và C1) đồng ý bán cho bên B (Công ty Đ1) và bên B đồng ý mua của bên A sản lượng điện năng được sản xuất từ Hệ thống phát lên lưới của bên B.

Điều 5:

Quyền và nghĩa vụ của bên A: Đảm bảo thiết kế, thi công lắp đặt, vận hành theo đúng quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật hiện hành về chất lượng điện năng, an toàn điện, xây dựng, môi trường và phòng chống cháy nổ. Cùng với bên B ghi nhận, thống nhất và theo dõi sản lượng điện phát lên lưới của bên B. Bên A không được đấu nối các nguồn điện khác, ngoài hệ thống đã được thỏa thuận trong Hợp đồng này, qua công tơ đo đếm mà không được sự đồng ý của bên B. Bên A có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế theo các quy định của Nhà nước.

Quyền và nghĩa vụ của bên B: Đầu tư, lắp đặt công tơ, hệ thống đo đếm tại điểm giao nhận điện cho bên A nếu bên A đáp ứng các tiêu chuẩn đấu nối tại điểm a khoản 1 Điều này. Cùng với bên A ghi nhận, thông báo, thống nhất và theo dõi lượng điện từ hệ thống phát lên lưới của bên B. Kiểm tra, theo dõi vận hành và xử lý sự cố theo quy định hiện hành. Bên B có quyền từ chối thanh toán khi bên A không tuân thủ các điều khoản quy định tại điểm a, c và d khoản 1 Điều này.

Sau khi ký Hợp đồng, C và C1 đã thực hiện nghiêm túc và đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với Công ty Đ1, nhưng Công ty Đ1 chỉ mới thanh toán tiền điện được 03 lần tương ứng các tháng 12/2020, 01/2021, 02/2021 và tạm ngưng thanh toán tiền điện phát sinh từ ngày 11/3/2021 đến nay, mặc dù C và C1 liên tục có văn bản đề nghị và khiếu nại thanh toán tiền điện. Ngày 15/4/2021, Điện lực K đến kiểm tra Hệ thống điện mặt trời mái nhà của C và C1; lập Biên bản làm việc với kết luận: " Công ty S lắp dư 779 tấm pin 410 Wp, vượt 319.780 Wp so với nghiệm thu ban đầu"; "Công ty N lắp dư 334 tấm pin 410 Wp so với nghiệm thu ban đầu". Ngày 19/4/2021, Điện lực Krông Pa ra Thông báo số 269/GLPC-ĐLKR về việc xử lý tồn tại hệ thống điện mặt trời mái nhà của C và C1, kết luận: "...Điện lực K sẽ không thực hiện xác nhận thanh toán tiền điện đối với phần lắp đặt vượt công suất trong hợp đồng mua bán điện đã ký kết". Ngày 22/4/2021, C1 và C đã làm Đơn khiếu nại gửi đến Điện lực Krông P và Công ty Đ1 đề nghị hủy Biên bản làm việc ngày 15/4/2021 và không đồng ý hướng xử lý trong Thông báo số 269/GLPC-ĐLKR ngày 19/4/2021. Ngày 06/5/2021, Công ty Đ1 tổ chức cho kiểm đếm và lập Biên bản làm việc ghi nhận số lượng tấm pin của Hệ thống điện mặt trời mái nhà của C thực tế là 2.915 tấm pin tương ứng với công suất 1.195,15 MWp; và của Hệ thống điện mặt trời mái nhà của C1 thực tế là 2.916 tấm pin tương ứng với công suất 1.195,16 MWp. Biên bản làm việc này đã ghi nhận số lượng tấm pin khác với số lượng tấm pin mà Điện lực Krông Pa đã kiểm tra và lập Biên bản làm việc ngày 15/4/2021.

Ngày 14/5/2021, Công ty Đ1 có Văn bản số 1424/GLPC-KTGSMBĐ + KD và số 1425/GLPC-KTGSMBĐ + KD trả lời Đơn khiếu nại của C và C1, với nội dung chủ yếu là hệ thống điện năng lượng mặt trời mái nhà của C đã nâng công suất vượt công suất trong Hợp đồng mua bán điện đã ký kết là 195,55 kWp tương ứng với 476 tấm pin lắp dư; C1 đã nâng công suất vượt công suất trong Hợp đồng mua bán điện đã ký kết là 195,96 kWp tương ứng với 477 tấm pin lắp dư và đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 5 của Hợp đồng nên việc Điện lực Krông Pa không thực hiện việc xác nhận sản lượng điện sản xuất của hệ thống để thanh toán tiền điện là đúng với điểm d khoản 2 Điều 5 của Hợp đồng.

Nguyên đơn cho rằng nội dung trả lời nêu trên là không hợp lý và không phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng và quy định của pháp luật, cụ thể:

C và C1 hoàn toàn không gắn thêm tấm pin, không nâng công suất kể từ khi ký Hợp đồng ngày 26/12/2020 vì C đã lắp đặt 2.915 tấm pin; C1 đã lắp đặt 2.916 tấm pin trước ngày 26/12/2020, theo hình ảnh hoàn thành thi công số lượng tấm pin trên mái nhà ngày 14/12/2020. Do đó C và C1 không đấu nối với các nguồn điện khác, ngoài hệ thống như nêu tại điểm c khoản 1 Điều 5 của Hợp đồng.

Biên bản nghiệm thu đưa vào hệ thống điện mặt trời mái nhà giữa Điện lực K với H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1 ngày 26/12/2020, nội dung nghiệm thu có xác định rõ đối tượng nghiệm thu là "Thông số kỹ thuật của các tấm pin quang điện và bộ C2 (không bao gồm phần kết cấu chịu lực, các giá đỡ, mối liên kết của hệ giá đỡ với các tấm pin trên mái nhà không bao gồm trong biên bản nghiệm thu này), kết luận: "Hệ thống điện mặt trời áp mái lắp đặt và nghiệm thu đạt các tiêu chuẩn và đáp ứng các yêu cầu vận hành nối lưới. Công trình thi công cơ bản đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để đưa vào vận hành". Theo đó, các bên đã khẳng định số lượng tấm pin không thuộc đối tượng nghiệm thu và điều này hoàn toàn phù hợp với Văn bản số 3725/EVN-KD ngày 01/6/2020 của Tập đoàn Đ2.

Tổng công suất Hệ thống điện mặt trời mái nhà của C bao gồm 09 inverter với công suất 110 KW/inverter và 2.915 tấm pin với công suất 410WP/tấm; và của C1 bao gồm 09 inverter với công suất 110 KW/inverter và 2.916 tấm pin với công suất 410WP/tấm thì cả hai hệ thống điện mặt trời mái nhà đều không vượt quá 01 MW hoặc 1,25 MWp được lắp đặt trước ngày 16/12/2020, phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 3 Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời tại Việt Nam; tại điểm a Điều 5 Thông tư số 18/2020/TT-BCT ngày 17/7/2020 của Bộ C3 quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các sự án điện mặt trời; và tại Văn bản số 3725/EVN-KD ngày 01/6/2020 của Tập đoàn Đ2. Còn công suất 999,6 kWp được thể hiện trong phần đầu của 02 Hợp đồng mua bán điện mà C và C1 đã ký với Công ty Đ1 chỉ là công suất kỹ thuật thay đổi liên tục theo từng giờ trong ngày, có khi chỉ 0 kWp hoặc có khi lên đến 1.195 kWp. Do đó nếu dựa vào công suất kỹ thuật 999,6 kWp này thì hợp đồng sẽ không còn giá trị thực hiện. Nên việc Công ty Đ1 dựa vào công suất kỹ thuật yêu cầu tách bỏ 476 tấm pin tương đương với công suất 195,55 kWp của C, tách 477 tấm pin tương đương 195,96 kWp của C1 là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật.

Qua nhiều buổi làm việc không thống nhất với ý kiến với Điện lực K và Công ty Đ1 cũng như việc hòa giải bất thành với của Sở Công thương tỉnh G. Theo sự hướng dẫn của Sở Công thương tỉnh G tại Văn bản số 1722/SCT-TTS ngày 21/9/2021, C và C1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty Đ1 và Tổng công ty Đ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được ký kết và thanh toán tiền mua điện cho C và C1, cụ thể:

Thanh toán cho C các khoản: Số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2021 là 2.304.322.310đ, lãi phạt do chậm trả tạm tính từ ngày 11/3/2021 đến ngày 30/9/2021 là 53.915.728₫.

Thanh toán cho C1 các khoản: Số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2021 là 2.298.080.400đ, lãi phạt do chậm trả tạm tính từ ngày 11/3/2021 đến ngày 30/9/2021 là 53.915.728₫.

* Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Tổng Công ty Đ (sau đấy viết tắt là EVNCPC) và Công ty Đ1 (viết tắt là GLPC) thống nhất với C và C1 về thời gian, địa điểm, nội dung ký kết Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà ngày 26/12/2020. Ngày 17/12/2020, H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1 cung cấp thông tin đăng ký đấu nối hệ thống điện mặt trời mái nhà đến GLPC. Cùng ngày GLPC với H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1 có Biên bản thỏa thuận đấu nối số 17/12/4/GLPC-KD+KT theo đó thỏa thuận với quy mô dự án là 999,6 kWp.

Ngày 24/12/2020, Hội đồng kiểm tra công trình điện của chủ đầu tư và có Biên bản số 02-12/BB-GLPC-KT về việc kiểm tra công trình điện DZ&TBA 1000kVA-0,4/22kV Hộ kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1, ghi nhận công suất hệ thống điện mặt trời mái nhà là 999,6kWp. Cùng ngày H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1 có giấy đề nghị bán điện gửi GLPC ghi rõ công suất dự án là là 999,6kWp.

Để có căn cứ ký kết, thực hiện Hợp đồng, Điện lực Krông Pa-GLPC tiến hành công tác nghiệm thu bao gồm: Biên bản kiểm tra kỹ thuật công trình điện mặt trời mái nhà ngày 26/12/2020 của H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 và C1 với các thông số chính của Hợp đồng được ghi nhận như sau: 2.439 tấm pin loại Next Energy 410Wp/tấm tương ứng với tổng công suất 999,6kWp/hệ thống và 09 bộ inverter Sungrow-100kW/bộ.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, trong các tháng 01, tháng 02 và tháng 3 năm 2021, Điện lực Krông Pa-GLPC đã chốt công tơ, xác nhận sản lượng điện và đã thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho chủ đầu tư theo thỏa thuận trong Hợp đồng.

Ngày 10/4/2021, sau khi thực hiện chốt số, Điện lực K phát hiện sản lượng điện của C và C1 tăng bất thường nên ngày 15/4/2021 Điện lực K đã tiến hành kiểm đếm thực tế lại số lượng tấm pin của 02 hệ thống điện nói trên. Qua kiểm tra đã phát hiện tổng số pin thực tế của hệ thống nhiều hơn so với biên bản nghiệm thu ngày 26/12/2020 và Hợp đồng đã ký với PCGL. Ngày 19/4/2021, Điện lực K gửi thông báo số 269/GLPC-ĐLKR đến C và C1, yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện đúng với Hợp đồng mua bán điện đã ký kết và phải tháo phần pin lắp vượt ra khỏi hệ thống, đồng thời thông báo không thực hiện xác nhận thanh toán tiền điện đối với phần lắp đặt vượt công suất. Ngày 22/4/2021, chủ đầu tư có đơn khiếu nại gửi GLPC với các nội dung: "Khiếu nại nội dung Biên bản làm việc ngày 15/4/2021 giữa Điện lực Krông Pa với C và C1; Khiếu nại Điện lực K không xác nhận thanh toán tiền điện đối với phần lắp đặt vượt công suất trong Hợp đồng đã ký kết và đề nghị thu hồi Thông báo số 269/GLPC-ĐLKR ngày 19/4/2021".

Ngày 06/5/2021, GLPC tổ chức đoàn kiểm tra, thực hiện kiểm đếm trực tiếp lại số pin đối với hệ thống điện, kết quả: C có 2.915 tấm pin 410 Wp, vượt 476 tấm pin; C1 có 2.916 tấm pin 410 Wp, vượt 477 tấm pin so với nghiệm thu ngày 26/12/2020.

Ngày 14/5/2021, GLPC đã có Văn bản số 1424/GLPC-KTGSMBD+KD và số 1425/GLPC-KTGSMBD+KD trả lời đơn khiếu nại của C và C1. Theo đó, GLPC đề nghị chủ đầu tư phối hợp với Điện lực Krông Pa xác định rõ phần công suất lắp vượt, thực hiện tách đấu nối ra khỏi hệ thống; đối với sản lượng điện năng do phần công suất lắp vượt phát lên, GLPC sẽ tạm thời không thanh toán cho đến khi có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Ngày 21/5/2021, C và C1 có Giấy đề nghị thanh toán tiền điện dự án năng lượng mạt trời mái nhà gửi PCGL.

Ngày 28/5/2021, Điện lực K có Văn bản làm việc số 356/GLPC-ĐLKR về việc thanh toán tiền điện với C và C1. Tại buổi làm việc, Điện lực K đã đưa ra số liệu sản lượng điện vượt công suất lắp đặt, yêu cầu C và C1 tách bỏ số lượng tấm pin lắp vượt ra khỏi hệ thống điện mặt trời mái nhà và GLPC chỉ thực hiện thanh toán tiền điện tạm tính theo công suất lắp đặt đúng Hợp đồng hai hên đã ký kết. Tuy nhiên C và C1 không đồng ý.

Ngày 03/6/2021, PCGL nhận được Đơn đề nghị thanh toán tiền điện (lần 2) của C và C1. Ngày 07/6/2021, PCGL có văn bản số 1761/GLPC-KD+KTGSMBĐ trảlời về việc đề nghị thanh toán tiền điện của C và C1, với nội dung đề nghị C tách bỏ 195,55 kWp, tương ứng 476 tấm pin; nghị C1 tách bỏ 195,96 kWp, tương ứng 477 tấm pin, thì GLPC sẽ thực hiện thanh toán tiền điện tạm ứng với công suất đã ký kết theo hợp đồng.

Ngày 21/9/2021, Điện lực K đã có Văn bản số 679/GLPC-ĐLKR đề nghị C và C1 phối hợp trong việc thanh toán tiền điện mặt trời mái nhà. Cùng ngày, Sở Công thương tỉnh G có Văn bản số 1722/SCT-TTS trả lời đơn của C và C1 "thực hiện việc tách bỏ phần pin lắp vượt ra khỏi hệ thống điện mặt trời mái nhà. Sau đó Điện lực K sẽ thanh toán tiền điện tạm tính tương ứng với công suất đã ký kết trong hợp đồng".

Ngày 04/10/2021, GLPC có văn bản số 3373/G:PC-KD+KTGSMBĐ về việc đề nghị C và C1 thực hiện tách bỏ phần tấm pin vượt ra khỏi hệ thống điện mặt trời mái nhà và phối hợp thực hiện thanh toán tiền điện. Việc C đơn phương đấu nối thêm 476 tấm pin, Cty Vạn Phát đơn phương đấu nối thêm 477 tấm pin vào hệ thống điện mặt trời sẵn có đã làm tăng công suất đăng ký bán điện, làm thay đổi số liệu đã được ghi nhận tại các biên bản nghiệm thu và thỏa thuận trong Hợp đồng ngày 26/12/2020, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trách nhiệm của EVNCPC, GLPC trong việc quản lý, theo dõi thực hiện Hợp đồng tại Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, pháp luật có liên quan và yêu cầu của Sở Công thương tỉnh G.

Từ những căn cứ trên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của C và C1; yêu cầu C và C1 phải tháo dỡ tấm pin lắp thêm ra khỏi hệ thống điện mặt trời mái nhà đã được các bên nghiệm thu.

* Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2022/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Áp dụng các Điều 274, 275, 278, 280, 288, 291, 351, 352, 357, 405 của Bộ luật dân sự; Điều 4, 24, 50, 55, 297, 306 của Luật Thương mại;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S. Buộc Tổng Công ty Đ và Công ty Đ1 phải liên đới thanh toán cho Công ty TNHH S số tiền bán điện từ ngày 11-3-2021 đến ngày 8-9-2022 là 5.518.622.769 đồng và tiền lãi suất do chậm thanh toán theo mức 0,8%/tháng tính từ ngày 11-3-2021 đến 8-9-2022 là 373.602.917 đồng; tổng cộng số tiền phải thanh toán là 5.892.225.686 đồng.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH N. Buộc Tổng Công ty Đ và Công ty Đ1 phải liên đới thanh toán cho Công ty TNHH N số tiền bán điện từ ngày 11-03-2021 đến ngày 8-9-2022 là 5.479.335.501 đồng và tiền lãi suất do chậm thanh toán theo mức 0,8%/tháng tính từ ngày 11-3-2021 đến 8-9-2022 là 370.957.240 đồng; tổng cộng số tiền phải thanh toán là 5.850.292.741 đồng.

- Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:

Buộc Tổng Công ty Đ và Công ty Đ1 phải liên đới chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước, số tiền là 119.742.518 đồng (quy tròn).

Công ty TNHH S và Công ty TNHH N không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm; trả lại cho Công ty TNHH S toàn bộ số tiền đã nộp tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 39.574.000 đồng; trả lại cho Công ty TNHH N toàn bộ số tiền đã nộp tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 39.510.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán; thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Kháng cáo: Trong thời hạn luật định, Tổng Công ty Đ kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa, hủy hoặc hủy một phần bản án sơ thẩm.

* Tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 05/2023/KDTM-PT ngày 17/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quyết định:

Chấp nhận kháng cáo của Tổng Công ty Đ; hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2022/KDTM-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí phúc thẩm.

* Ngày 29/3/2023, C và C1 có đơn đề nghị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Năng xem xét Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm nêu trên theo thủ tục Giám đốc thẩm.

* Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/2023/KDTM-GĐT ngày 19/9/2023, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng quyết định:

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/2023/KN-KDTM ngày 17/8/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

2. Hủy toàn bộ Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 05/2023/KDTM-PT ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 17/2022/KDTM-ST ngày 15/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về vụ án "Tranh chấp hợp đồng mua bán điện" giữa nguyên đơn Công ty TNHH S, Công ty TNHH N với bị đơn là Tổng Công ty Đ, Công ty Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Điện Lực Krông P.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.

* Ngày 24/10/2023, C và C1 có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Quyết định giám đốc thẩm số 12/2023/KDTM-GĐT ngày 19/9/2023 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

* Tại Quyết định giám đốc thẩm số 05/2025/KDTM-GĐT ngày 07/01/2025, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quyết định:

1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 15/2024/KN-KDTM ngày 30/9/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.

2. Hủy Quyết định giám đốc thẩm số 12/2023/KDTM-GĐT ngày 19/9/2023 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 05/2023/KDTM-PT ngày 17/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai về vụ án "Tranh chấp hợp đồng mua bán điện" giữa nguyên đơn Công ty TNHH S, Công ty TNHH N với bị đơn là Tổng Công ty Đ, Công ty Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Điện Lực Krông P.

3. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Tổng Công ty Đ là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, còn Công ty Đ1 là chi nhánh của Tổng Công ty Đ không có tư cách pháp nhân, hoạch toán phụ thuộc và hoạt động theo ủy quyền của Tổng Công ty Đ. Tại các đơn khởi kiện của C và C1 đều xác định người bị kiện là Tổng Công ty Đ và người đại diện là Công ty Đ1. Do đó, căn cứ khoản 3 và khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn trong vụ án này là Tổng Công ty Đ, còn Công ty Đ1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty Đ1 tham gia tố tụng với tư cách bị đơn là không đúng quy định của pháp luật.

[3] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty Đ1 là chi nhánh của Tổng Công ty Đ nên nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Pleiku là nơi Công ty Đ1 có trụ sở giải quyết vụ án. Do vậy việc Tòa án nhân dân thành phố Pleiku thụ lý là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về nội dung:

[4.1] Ngày 26/12/2020, H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 ký Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số 20/000486-PC10DD0522211 với Tổng Công ty Đ do Công ty Đ1 đại diện theo ủy quyền. Cùng ngày 26/12/2020 Công ty N ký Hợp đồng mua bán điện cho hệ thống điện mặt trời mái nhà số 20/000479-PC10DD0522201 với Tổng Công ty Đ do Công ty Đ1 đại diện theo ủy quyền. Ngày 11/3/2021, H3 kinh doanh Chư Ngọc H4 ký thỏa thuận với Tổng Công ty Đ thay đổi chủ thể Bên bán điện trong Hợp đồng sang Công ty S. Hai hợp đồng mua bán điện nói trên đều có hiệu lực kể từ ngày 26/12/2020 đến ngày 26/12/2040. Ngày 24/12/2020, Điện lực K lập Biên bản kiểm tra kỹ thuật công trình điện và ngày 26/12/2020 Điện lực Krông Pa lập Biên bản nghiệm thu đưa công trình vào vận hành hệ thống điện mặt trời mái nhà của C và C1. Công ty Đ1 chỉ thanh toán tiền điện được 03 lần tương ứng các tháng 12/2020, tháng 01/2021, tháng 02/2021 và tạm ngưng thanh toán tiền điện phát sinh từ ngày 11/3/2021 đến nay.

[4.2] Tại Biên bản nghiệm thu đưa vào vận hành hệ thống điện mặt trời mái nhà ngày 26/12/2020, hai bên xác định đối tượng nghiệm thu là "Thông số kỹ thuật của các tấm pin quang điện và bộ C2 (không bao gồm phần kết cấu chịu lực, các giá đỡ, mối liên kết của hệ giá đỡ với các tấm pin trên mái nhà không bao gồm trong biên bản nghiệm thu này), kết luận: "Hệ thống điện mặt trời áp mái lắp đặt và nghiệm thu đạt các tiêu chuẩn và đáp ứng các yêu cầu vận hành nối lưới. Công trình thi công cơ bản đảm bảo yêu cầu kỹ thuật để đưa vào vận hành". Theo đó, các bên khẳng định số lượng tấm pin không thuộc đối tượng nghiệm thu. Các tài liệu khác có trong hồ sơ cũng cho thấy công tác nghiệm thu đưa vào đấu nối của hai hệ thống điện không có kiểm đếm số lượng tấm pin cụ thể. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/01/2022 xác định số lượng tấm pin của hai Hệ thống điện trùng khớp với số lượng tấm pin được Công ty Đ1 tổ chức kiểm đếm ngày 06/5/2021, số lượng tấm pin cụ thể: C 2.915 tấm pin, C1 2.916 tấm pin. Quá trình giải quyết vụ án, Tổng Công ty Đ và Công ty Đ1 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh vị trí hay thời gian lắp đặt thêm các tấm pin của C và C1. Do đó, không có cơ sở xác định số lượng tấm pin C và C1 lắp đặt thêm sau ngày nghiệm thu 26/12/2020.

[4.3] Theo bảng tính do Tổng Công ty Đ3 thì tính đến ngày 08/9/2022, Tổng Công ty Đ vẫn sử dụng toàn bộ sản lượng điện thực tế do C và C1 sản xuất được. Cụ thể tổng điện năng của C đã phát lên lưới qua hệ thống đo đếm được là 2.608.368 KWh, thành tiền là 5.518.622.769 đồng; tổng điện năng của C1 đã phát lên lưới qua hệ thống đo đếm được là 2.859.792 KWh, thành tiền là 5.479.335.501 đồng. Do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[4.4] Như đã phân tích tại mục [2]; Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty Đ1 cũng là bị đơn trong vụ án này, từ đó buộc Công ty Đ1 liên đới với Tổng Công ty Đ thanh toán C và C1 là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty Đ1. Do vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng Công ty Đ, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Tổng Công ty Đ phải thanh toán tiền điện và lãi chậm trả cho C và C1.

[5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Tổng Công ty Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị sửa nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 17/2022/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của Tổng Công ty Đ, sửa Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 17/2022/KDTM-ST ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai .

Áp dụng các Điều 274, 275, 278, 280, 288, 291, 351, 352, 357, 405 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 4, 24, 50, 55, 297, 306 Luật Thương mại.

1.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và Công ty Trách nhiệm hữu hạn N.

1.2. Tổng Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S số tiền bán điện từ ngày 11/3/2021 đến ngày 08/9/2022 là 5.518.622.769 đồng và tiền lãi suất do chậm thanh toán là 373.602.917 đồng; tổng cộng số tiền phải thanh toán là 5.892.225.686 đồng (năm tỷ tám trăm chín mươi hai triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

1.3. Tổng Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn N số tiền bán điện từ ngày 11/3/2021 đến ngày 08/9/2022 là 5.479.335.501 đồng và tiền lãi suất do chậm thanh toán là 370.957.240 đồng; tổng cộng số tiền phải thanh toán là 5.850.292.741 đồng (năm tỷ tám trăm năm mươi triệu hai trăm chín mươi hai nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

1.4. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn S và Công ty Trách nhiệm hữu hạn N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

1.5. Án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm:

Tổng Công ty Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 119.742.518đ (một trăm mười chín triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm mười tám đồng) để sung quỹ nhà nước.

Trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn S toàn bộ số tiền đã tạm nộp án phí là 39.574.000đ (ba mươi chín triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000932 ngày 26 tháng 10 năm 2021; trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn N 39.510.000đ (ba mươi chín triệu năm trăm mười nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0000933 ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Trả lại cho Tổng Công ty Đ 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền tạm ứng án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm theo biên lai thu số 0002466 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS, VT.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/KDTM-PT ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng mua bán điện

  • Số bản án: 07/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán điện
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ mua bán điện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger