Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HÓA

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày: 15 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và bà Trần Thị Phúc Tuệ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST - HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST - HS ngày 06/3/2025; Thông báo xét xử số 02/2025/TB-TA ngày 01/4/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Duy T - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 16/4/2005 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn D T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1974 và bà Ngô Thị S, sinh năm 1974; vợ, con: chưa có; tiền án: có một tiền án: ngày 23/02/2023 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 15 tháng tù tại Bản án số 22/2023/HSST ngày 27/6/2023, đến ngày 23/3/2024 chấp hành xong hình phạt tù, tiền sự: không; nhân thân: Năm 2021 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính tại Quyết định số 39834/QĐ-XPHC và Quyết định số 39/835/QĐ-XPHC ngày 24/9/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lê Anh Q - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 29/3/2005 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn A T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 09/12; con ông Lê Viết H, sinh năm 1975 và bà Mai Thị L, sinh năm 1979; vợ, con: chưa có; tiền án: không, tiền sự: có 01 tiền sự: năm 2024 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính tại Quyết định số 0006405/QĐ-XPHC ngày 10/12/2024; nhân thân: Năm 2021 có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính tại Quyết định số 0039826/QĐ-XPHC ngày 13/7/2021; ngày 12/12/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ theo Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/12/2024. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị S, sinh năm 1952

Nơi cư trú: thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 21/12/2024, Nguyễn Duy T rủ Lê Anh Q đi tìm mua ma túy về để sử dụng thì Q đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, nhãn hiệu YAMAHA của gia đình, chở Q đi đến khu vực gần cầu L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp một người đàn ông lạ mặt đứng một bên đường. T đi đến gặp và hỏi mua ma túy loại hồng phiến, người đàn ông đó đồng ý bán cho T 05 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, đựng trong gói nilon trong suốt, với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T chở Q quay về nhà cất xe mô tô rồi mang theo ma túy cùng Q đi bộ đến vườn cây keo cách nhà ở của T khoảng 50 mét để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện. Lúc này, Nguyễn Duy T vứt gói nilon chứa 05 viên ma túy xuống đất. Tổ công tác Công an huyện T lập biên bản bắt quả tang, thu giữ 05 viên ma túy và phương tiện liên quan.

* Tại Bản kết luận giám định số: 36/KL-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 05 (năm) viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, thu giữ của Nguyễn Duy T và Lê Anh Q là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,51gam (không phẩy năm mươi mốt gam).

Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:

  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn Trắng – Đen, số máy 5C641078733, số khung C641DY078709, xe đã qua sử dụng.
  • 05 (năm) viên nén, hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, là ma túy loại Methamphetamine thu giữ trong khi bắt quả tang Nguyễn Duy T và Lê Anh Q, có khối lượng 0,51 gam. Sau khi giám định, số ma túy còn lại là 0,342 gam cùng vỏ bao gói, được niêm phong trong phong bì thư ghi “36/KL-KTHS”, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.

* Xử lý vật chứng: Không.

Bản cáo trạng số: 07/CT – VKSTH – HS ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2024.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Anh Q từ 12 đến 15 tháng tù. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2024. Áp dụng Điều 55, khoản 3 Điều 56 Bộ luật hình sự, chuyển hình phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thành hình phạt 08 tháng tù giam, tổng hợp thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

* Vật chứng vụ án:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư, trên ghi nội dung số “36/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,342 gam (không không phẩy ba trăm bốn mơi hai gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.
  • Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị S: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn Trắng – Đen, số máy 5C641078733, số khung C641DY078709, xe đã qua sử dụng.

* Án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH buộc các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới. Các bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình; không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, có sức khoẻ, biết được việc tàng trữ ma tuý là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do lối sống buông thả, thiếu lành mạnh của bản thân nên đã sa vào nghiện ngập ma tuý. Do đó, 17 giờ ngày 21/12/2024, bị cáo T rủ rê bị cáo Q đi tìm mua ma túy về để sử dụng thì Q đồng ý. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, chở Q đi đến khu vực gần cầu L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì gặp một người đàn ông lạ mặt, T đi đến gặp và hỏi mua ma túy loại hồng phiến, người đàn ông đó đồng ý bán cho T 05 viên nén hình tròn, màu hồng, dạng thuốc tân dược, đựng trong gói nilon trong suốt, với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T chở Q quay về nhà cất xe mô tô rồi mang theo ma túy cùng Q đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma tuý, số ma tuý mà các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q tàng trữ có tổng khối lượng là 0,51 gam loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo đã tàng trữ, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo Nguyễn Duy T có 01 tiền án chưa được xóa án tích vì vậy bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
  • Bị cáo Lê Anh Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn, gây tệ nạn cho xã hội và tạo sự hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe chung.

Bị cáo Nguyễn Duy T hiện đang có 01 tiền án và có nhân thân xấu: năm 2021 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính tại Quyết định số 39834/QĐ-XPHC và Quyết định số 39/835/QĐ-XPHC ngày 24/9/2021. Bị cáo Lê Anh Q cũng có nhân thân xấu: Năm 2021 có hành vi trộm cắp tài sản bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính tại Quyết định số 0039826/QĐ-XPHC ngày 13/7/2021; ngoài ra, năm 2024 bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo đã từng bị pháp luật xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục vi phạm pháp luật, việc này thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật, vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc để xử phạt các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau khi đã chấp hành án, trở về hoà nhập cộng đồng xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Anh Q là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Đối với bị cáo Lê Anh Q: Ngày 12/12/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ theo Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/12/2024. Tuy nhiên, theo công văn số 20/CV-THAHS ngày 15/01/2025 của Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T đến ngày 21/12/2024 bị cáo bị bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên chưa thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Vì vậy, cần áp dụng Điều 55, khoản 3 Điều 56 Bộ luật hình sự, chuyển hình phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ thành hình phạt 08 tháng tù giam, tổng hợp thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư, trên ghi nội dung số “36/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,342 gam (không không phẩy ba trăm bốn mơi hai gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn Trắng – Đen, số máy 5C641078733, số khung C641DY078709, xe đã qua sử dụng, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định chiếc xe này là của anh trai bị cáo Nguyễn Duy T (hiện đang ở Đài Loan) giao lại cho mẹ bị cáo là bà Ngô Thị S quản lý, sử dụng. Bà S không biết việc bị cáo T sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy. Vì vậy, cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q khai nhận đã mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực gần cầu L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ tài liệu để xác minh, làm rõ nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2024).
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
    • - Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Anh Q 15 (mười lăm) tháng tù. Áp dụng Điều 55, khoản 3 Điều 56 Bộ luật hình sự, chuyển hình phạt 24 (hai mươi tư) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thành hình phạt 08 (tám) tháng tù giam, tổng hợp thành hình phạt chung buộc bị cáo Lê Anh Q phải chấp hành. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2024).

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

  1. Vật chứng vụ án:
    • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư, trên ghi nội dung số “36/KL-KTHS” niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt, bên trong có: 0,342 gam (không không phẩy ba trăm bốn mơi hai gam) ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói.
    • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị S: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60B4 - 320.24, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn Trắng – Đen, số máy 5C641078733, số khung C641DY078709, xe đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.

  1. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc các bị cáo Nguyễn Duy T và Lê Anh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - THADS huyện Tuyên Hóa;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - VKSND huyện Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Đoàn Thị Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy T, Lê Anh Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger