Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN M'ĐRẮK

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 07/2025/HS-ST

Ngày 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy
  • + Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Văn Giang
    • Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
    • Ông Y Đo Niê
    • Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Tiến T

Sinh ngày 04 tháng 11 năm 1997; tại tỉnh Khánh Hòa.

Nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

Nghề nghiệp: lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Tiến L (sinh năm 1976) và bà Lê Thị Mỹ H (sinh năm 1980); Vợ là Nguyễn Ngọc Diệu H1 (sinh năm 1997, đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22 tháng 01 năm 2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa:

  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại.
    • + Ông Bùi Văn N - sinh năm 1963 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
    • + Chị Bùi Thị M - sinh năm 1996 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk.
    • + Anh Lâm Nhật T1 - sinh năm 1996 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Tiến T đã học và được cấp giấy phép lái xe hạng C, làm nghề lái xe thuê cho anh Lâm Nhật T1. Sáng ngày 09/12/2024, T điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 đi từ thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đến thôn F, xã C, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk để bốc cây gỗ keo đi bán theo yêu cầu của anh T1. Khoảng 06 giờ 50 phút cùng ngày, T điều khiển xe lưu thông theo hướng từ thôn E đi thôn F, xã C, khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận thôn E, xã C, huyện M'Đrắk, mặc dù điều kiện trời mưa, mặt đường nhỏ, đoạn đường cong và tầm nhìn bị hạn chế nhưng T vẫn điều khiển xe chạy ở giữa đường và lấn gần hết phần đường bên trái theo hướng đi của mình (phần đường của người đi ngược chiều). Vì vậy, khi phát hiện có người (bà Trịnh Thị N1) điều khiển xe môtô đi theo hướng ngược lại, T không kịp điều khiển cho xe chạy hoàn toàn về phần đường bên phải theo hướng đi của mình để nhường đường cho bà N1, nên mặt ngoài ốp lazang (ốp mâm) bánh thứ 2 bên trái của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 do T điều khiển đã va chạm với xe môtô biến kiểm soát 47G1-281.00 do bà N1 điều khiển làm bà N1 và xe môtô bị ngã xuống đường. Hậu quả, bà Trịnh Thị N1 bị thương được đưa đến Trung tâm y tế H2'Đrắk cấp cứu sau đó chuyển lên Bệnh viện Đ điều trị, do thương tích nặng nên đến ngày 11/12/2024 bà N1 đã tử vong; 02 phương tiện chỉ bị xước nhẹ không thiệt hại gì.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện thể hiện:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường xã thuộc thôn E, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk, đây là đoạn đường cong dần về phía bên phải theo hướng từ thôn E đi thôn F xã C, mặt đường thảm bê tông xi măng rộng 3,6m, tương đối bằng phẳng; hai bên đường là dải đất, mỗi bên rộng 1m. Chọn trụ điện số 93/4 dựng bên phải cách mép đường bên phải 9,20m theo hướng từ thôn F đi thôn E, xã C làm điểm mốc cố định và chọn mép đường bên trái theo hướng từ thôn E đi thôn F, xã C làm mép đường chuẩn để đo đến vị trí dấu vết để lại sau khi vụ tai nạn xảy ra.

Tại hiện trường ghi nhận 01 vùng mảnh nhựa vỡ kích thước (0,40 x 0,30)m. T2 vùng nhựa vỡ cách mép đường chuẩn 0,40m, cách điểm mốc cố định (trụ điện 93/4) 12,1m. Xác định được điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là mặt ngoài chụp mâm bằng nhựa bánh xe thứ hai bên trái của xe ôtô biển số 47C-305.67 với đầu giá chở hàng phía bên trái trái gắn trên yên xe môtô biển số 47G1-281.00, chiếu tương ứng xuống mặt đường xác định được điểm va chạm đầu tiên giữa 02 phương tiện trên mặt đường thuộc phần đường phía bên phải theo hướng di chuyển của xe môtô do bà N1 điều khiển. Điểm A cách mốc chuẩn về phía Nam 12,40m, cách mép đường chuẩn về phía Tây 0,80m và cách tâm vùng mảnh nhựa vỡ về phía Tây 0,42m.

- Tại kết luận giám định số 116/KL-KTHS ngày 09/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Dấu vết trượt xước bám dính chất màu đỏ (dạng sơn) ở mặt ngoài ốp lazang (ốp mâm) lốp bánh thứ 2 bên trái (tính từ trước ra sau) của xe ôtô biển số 47C-305.67 có chiều từ mặt lăn vào tâm, ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước mất chất màu đỏ (dạng sơn) ở mặt ngoài bên trái khung kim loại (giá chở hàng) gắn trên yên phía sau của xe môtô biển số 47G1-281.00. Dấu vết va chạm ở xe môtô tại vị trí này có chiều từ trước ra sau.

- Tại Kết luận giám định tử thi số 05/KLTTHS-PY ngày 10/01/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Trịnh Thị N1 là do chấn thương ngực kín nặng/ Chấn thương cột sống ngực/ Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.

- Tại kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 10/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tập tin Video được trích xuất từ thẻ nhớ của camera hành trình gắn trên xe ôtô biển số 47C-305.67 không có dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Vật chứng vụ án: Xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00; Xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Tiến T; 09 mảnh nhựa bị vỡ thu giữ tại hiện trường.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Tiến T đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại là ông Bùi Văn N (chồng bà N1) số tiền 120.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân huyện M'Đrắk truy tố bị cáo Trần Tiến T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Tiến T từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng; bị cáo không phải bồi thường gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67, giấy tờ có liên quan và 09 mảnh nhựa bị vỡ cho anh Lâm Nhật T1 và xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00 cho ông Bùi Văn N là chủ sở hữu hợp pháp.

Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Trần Tiến T 01 Giấy phép lái xe hạng C, mang tên Trần Tiến T.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì; chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Trần Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 09/12/2024, bị cáo Trần Tiến T điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 đi từ thị xã N, tỉnh Khánh Hòa đến thôn F, xã C, huyện M'Đ, tỉnh Đắk Lắk để chở cây gỗ keo của anh Lâm Nhật T1 đi bán; khi đi đến đoạn đường liên thôn, thuộc địa phận thôn E, xã C, huyện M'Đrắk. Do không tuân thủ các quy tắc về tham gia giao thông đường bộ quy định tại khoản 1 Điều 10; khoảng 1 Điều 17 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ: Không tập trung, thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe ôtô đi lấn sang phần đường của người đi ngược chiều, nên đã va chạm vào xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00 do bà Trịnh Thị N1 điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả, bà Trịnh Thị N1 bị thương nặng, đến ngày 11/12/2024 bà N1 đã tử vong.

Như vậy, hành vi của Trần Tiến T đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) Làm chết người...

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không chỉ xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ mà còn gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, được đào tạo, được cấp giấy phép lái xe hạng C và nhận thức được rằng khi điều khiển xe ôtô phải tập trung chú ý quan sát, đi đúng phần đường quy định và chấp hành nghiêm các quy tắc của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ; nhưng do bị cáo đã chủ quan, không tuân thủ các quy tác của Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nên bị cáo đã điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 va chạm với xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00 do bà Trịnh Thị N1 điều khiển; hậu quả bà N1 bị tử vong sau khi đi cấp cứu. Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, như vậy mới đảm bảo được việc cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ nói riêng và pháp luật nói chung; qua đó góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại cho bị cáo; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi mà mình đã gây ra; hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp lỗi vô ý; hiện nay bị cáo đang phải nuôi dưỡng con nhỏ sau ly hôn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tôi lần đầu; có nhiều tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, nên có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

[4]. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Trần Tiến T đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Xử lý vật chứng: Đối với xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 và Giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; 09 mảnh nhựa bị vỡ và xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00, quá trình điều tra đã xác định được anh Lâm Nhật T1 và ông Bùi Văn N là chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lâm Nhật T1 và ông Bùi Văn N là đúng pháp luật.

Đối với Giấy phép lái xe hạng C số [...], do Sở Giao thông Vận tải tỉnh K cấp ngày 14/12/2023 mang tên Trần Tiến T là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Tiến T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/3/2025).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hoà giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 BLDS.
  4. Công nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000 đồng; bị cáo không phải bồi thường gì thêm.

  5. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. Công nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lâm Nhật T1 xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67 và Giấy biên nhận giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông đang thế chấp của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ôtô biển kiểm soát 47C-305.67; 09 mảnh nhựa bị vỡ và trả lại cho ông Bùi Văn N xe môtô biển kiểm soát 47G1-281.00 là chủ sở hữu hợp pháp.

    Trả lại cho bị cáo Trần Tiến T 01 (một) Giấy phép lá xe hạng C số [...], do Sở Giao thông Vận tải tỉnh K cấp ngày 14/12/2023 mang tên Trần Tiến T.

  7. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Bị cáo Trần Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06)
  • - VKSND huyện M'Đrắk;
  • - UBND xã Ninh Xuân, TX Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Bá Bảy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 07/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tiến Trực - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger