|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 07/2025/HS-ST Ngày: 27-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tuấn Chiến
- Bà Phan Phương Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lưu Công Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 10/9/1962 tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo; Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim K (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1941; Vợ là Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; Có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: 01 (Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2014/HSST ngày 28/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt Nguyễn Văn C 6.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”, đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ tạm giam từ ngày 17/12/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt.
2. Trần Đăng K2, sinh ngày 14/5/1982 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo; Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1953; Có vợ là Bùi Thị Hồng P, sinh năm 1989; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: 01
(Tại quyết định số: 57/QĐ-UBND ngày 24/8/2021, Nguyễn Đăng K3 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời gian 4,5 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt, tạm giữ tạm giam từ ngày 19/12/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Bùi Thị Hồng P, sinh năm 1989
Địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Có mặt.
+ Anh Ngô Văn D, sinh năm 1987
Địa chỉ: Khu F (S), thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1958
Địa chỉ: Khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 17/12/2024, tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ dừng, kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển số 99A-011.06 do Nguyễn Văn C1, sinh năm 1958, địa chỉ khu H, thị trấn Đ, huyện Đ điều khiển. Quá trình kiểm tra Nguyễn Văn C, sinh năm 1962, địa chỉ: khu H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tự giác giao nộp 02 gói giấy hai mặt màu trắng bạc, bên trong 02 gói đều chứa chất bột, cục màu trắng. C khai nhận đó là ma túy loại H, C tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy 5G, màu xanh, lắp 02 sim số là 0349584137 và sim số 0869.175.938, đã cũ, số IMEI1: 355240323327935, số IMEI2: 355240323327943 của Nguyễn Văn C; tạm giữ 01 của Nguyễn Văn C1: 01 Giấy phép lái xe, số [...], mang tên Nguyễn Văn C1; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moning, đã qua sử dụng, số khung RNYSA2432BC021482, số máy: G4HG BP005787, gắn biển kiểm soát 99A-011.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 032756, mang tên Nguyễn Đức Đ, đăng ký biển kiểm soát 99A-011.06; 01 Giấy chứng nhận kiểm định, số A, biển kiểm soát đăng ký: 99A-011.06 và đưa các đối tượng về trụ sở để điều tra để làm rõ.
Ngày 18/12/2024 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn C nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ ra Quyết định giám định, trưng cầu Phòng K4 Công an tỉnh P giám định chất ma túy có trong chất bột, cục màu trắng bên trong 02 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài bằng hai mặt màu trắng bạc thu giữ của Nguyễn Văn C vào ngày 17/12/2024. Tại Bản Kết luận giám định số 1712/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh P, kết luận: “Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 02 gói giấy, gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,758 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất".
Quá trình làm việc, Nguyễn Văn C khai tàng trữ số ma túy trên với mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang. Ngoài ra, C tự khai nhận 01 lần bán ma túy loại Heroine cho Trần Đăng K2, sinh năm 1982 ở khu T, thị trấn Đ, huyện Đ vào ngày 03/12/2024 thu 200.000₫ và 02 lần bán ma túy loại Heroine cho Ngô Văn D, sinh năm 1987 ở khu F (S), thị trấn Đ, huyện Đ vào ngày 03/12/2024 và ngày 17/12/2024 thu tổng 02 lần là 800.000đ. Tại lần C bán ma túy cho D vào ngày 03/12/2024 có sự giúp sức của Trần Đăng K2.
Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn C, ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của K2 thu giữ: 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, số 0101802, mang tên Bùi Quang H1, biển số kiểm soát 19K4-5849 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SURUKI, đã cũ, màu xanh, số máy E432VN153584; số khung BE49L040153584, gắn biển kiểm soát 19K4-5849, đồng thời triệu tập Trần Đăng K2 và Ngô Văn D đến làm việc. Tại Cơ quan Điều tra, Trần Đăng K2 và Ngô Văn D đã khai nhận phù hợp với lời khai của C. K2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, đã qua sử dụng cũ, màu ghi, Số sê-ri F17V8129HYFK, lắp sim thuê bao số 0368395065. Ngô Văn D tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J2, đã qua sử dụng cũ, Số sê-ri: R58J35A6A3D, lắp sim thuê bao số 0344975593. Công an huyện Đ kiểm tra việc sử dụng trái phép chất ma túy đối với C, K2, D kết quả đều dương tính với ma túy loại Hêroin.
Xét thấy, hành vi của Nguyễn Văn C, Trần Đăng K2 đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp tạm giam đối với Nguyễn Văn C về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và Trần Đăng K2 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Kết quả điều tra, xác định làm rõ nội dung vụ án như sau:
Nguyễn Văn C, Trần Đăng K2 và Ngô Văn D đều là người sử dụng trái phép chất ma túy, quen nhau nên cho nhau số điện thoại để liên lạc. Ngày 03/12/2024 C đã bán phép chất ma túy cho K2 và D; ngày 17/12/2024 C đã bán trái phép chất ma túy cho D và 01 lần tàng trữ trái phép 0,758 gam Heroin nhằm mục đích để bán cho người khác vào ngày 17/12/2024. Ngày 03/12/2024 K2 là đồng phạm với Nguyễn Văn C, K2 đã giúp sức cho C bán trái phép chất ma túy cho D. Cụ thể như sau:
- Hành vi bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C cho Trần Đăng K2 và Ngô Văn D:
Lần 1: Ngày 03/12/2024, Nguyễn Văn C bán ma túy Heroine cho Trần Đăng K2, Ngô Văn D:
Khoảng 10 giờ ngày 03/12/2024, Trần Đăng K2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0368.395.065 gọi điện đến số 0869.175.938 lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY 5G của Nguyễn Văn C hỏi mua 200.000 đồng Heroine, C đồng ý, bảo K2 đưa tiền trước để C đi mua ma túy và rủ K2 đi mua ma túy cùng, K2 đồng ý. Sau đó, Ngô Văn D gọi điện từ điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG lắp sim số 0344.975.593 của D gọi đến số điện thoại trên của Nguyễn Văn C hỏi mua 400.000 đồng Heroine. C đồng ý và bảo D phải đưa tiền trước cho C, D đồng ý. Sau đó, Trần Đăng K2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Smash, gắn biển số 19K4 - 5849, đi đến nhà Chung. Tại đây, K2 đưa C 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. C cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô của K2, chở K2 ngồi phía sau đến huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc mua ma túy. Trên đường đi C nói với K2 còn một người nữa mua ma túy của C. Khi đến đoạn đường Tỉnh lộ 323, thuộc khu A, xã H, C dừng xe gặp D. D đưa C 400.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. K2 biết D đưa tiền cho C để mua ma túy. C cầm tiền của D đưa, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô chở K2 đi. Khi đến huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, C bảo K2 đứng đợi tại ven đường, còn C điều khiển xe mô tô đi khoảng 50m, vào ngõ gặp một người nữ giới, mua của người này 500.000 đồng được 01 gói Heroin, có đặc điểm ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng bạc, bên trong có chứa Heroin. C cầm cất giấu trong người. C đi được khoảng 10 phút, sau đó quay lại đón K2. C điều khiển xe mô tô chở K2 đi về hướng huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Khi qua cầu K về đến địa phận huyện Đ, C và khoa vào một ngôi nhà bỏ hoang ven đường, C lấy từ trong người ra một gói Heroine có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt đều màu trắng bạc, bên trong chứa Heroine, rồi lấy 01 phần đưa cho K2, sau đó C cũng lấy lấy một phần Heroine trong gói và cả hai tự sử dụng cho bản thân bằng cách hít vào cơ thể qua đường hô hấp. Sau khi sử dụng ma túy xong, C gói phần Heroine còn lại trong gói như cũ, chính bằng mảnh giấy màu trắng bạc lúc trước, rồi đưa cho K2, bảo K2 cầm gói Heroine này đưa cho D. K2 đồng ý, cầm gói Heroine C đưa để vào trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L và cất vào trong người. C tiếp tục điều khiển xe mô tô chở K2 về hướng xã H, huyện Đ. Khi đi gần đến khu A, xã H, huyện Đ, C gọi điện cho D bảo D ra đường để nhận ma túy. Khi K2 và C đi về đến đoạn đường Tỉnh lộ 323, thuộc khu A, xã H, huyện Đ gặp D đứng đợi ở ven đường, gặp nhau, K2 đưa vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong chứa gói Heroine cho D, sau đó C và K2 đi về nhà, còn D cầm vỏ bao thuốc lá bên trong chứa gói Heroine, đi xuống ven đường Tỉnh lộ 323 và một mình sử dụng hết số Heroine này cho bản thân bằng các hít vào cơ thể qua đường hô hấp, sau đó D đi bộ về nhà.
Lần 2: Ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn C bán Heroine cho Ngô Văn D:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, D gọi điện thoại cho C hỏi mua 400.000 đồng Heroine, C đồng ý bán Heroine cho D, hẹn D đến sau cửa hàng X1 thuộc khu H, thị trấn Đ để giao nhận Heroine, D đồng ý. Sau đó, D đi bộ đến điểm hẹn gặp C. Tiếp đó, D đưa cho C 400.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, C cầm tiền rồi đưa cho D 02 gói Heroine đều có đặc điểm gói ngoài bằng mảnh giấy hai mặt màu trắng có dòng kẻ, bên trong đều chứa Heroine rồi đi bộ về nhà. Còn D mang theo gói Heroine vừa mua được của C đi sử dụng một mình hết bằng hình thức hít vào cơ thể qua đường hô hấp, rồi đi bộ về nhà.
- Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn C:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 17/12/2024, tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ dừng, kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Kia Morning, biển số 99A-011.06 do Nguyễn Văn C1 điều khiển. Quá trình kiểm tra Nguyễn Văn C tự giác giao nộp 02 gói ma túy, tổng khối lượng 0,758 gam, loại Heroine, C tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên.
Nguồn gốc số ma túy Nguyễn Văn C bán cho Trần Đăng K2, Ngô Văn D và tàng trữ nhằm mục đích để bán ngày 17/12/2024 nêu trên, Nguyễn Văn C khai nhiều lần mua của một người nữ giới không rõ họ tên, không rõ năm sinh, địa chỉ, tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngoài lời khai của C không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSĐH ngày 14/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Trần Đăng K2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Đăng K2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s, x khoản 1 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Trần Đăng K2.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 07 (B) năm tù đến 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/12/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Đăng K2 từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Xác nhận: Ngày 14/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả cho ông Nguyễn Văn C1: 01 Giấy phép lái xe, số [...], mang tên Nguyễn Văn C1; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moning, đã qua sử dụng, số khung RNYSA2432BC021482, số máy: G4HG BP005787, gắn biển kiểm soát 99A-011.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 032756, mang tên Nguyễn Đức Đ, đăng ký biển kiểm soát 99A-011.06; 01 Giấy chứng nhận kiểm định, số 1248376, biển kiểm soát đăng ký: 99A-011.06.
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,641 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau khi giám định, đựng trong 01 túi niêm phong mẫu Mã số: PS3 2137085, Số: 1712/KL-KTHS của Phòng K4 Công an tỉnh P; 01 sim số 0869.175.938 của bị cáo Nguyễn Văn C; 01 sim số 0368395065 của bị cáo Trần Đăng K2.
+ Tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy 5G, màu xanh, đã cũ, số IMEI1: 355240323327935, số IMEI2: 355240323327943 của Nguyễn Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, đã qua sử dụng cũ, màu ghi, Số sê-ri F17V8129HYFK của Trần Đăng K2.
+ Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) của Nguyễn Văn C.
+ Trả lại cho Nguyễn Văn C 01 sim số 0349584137.
+ Trả lại cho anh Ngô Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J2, màu vàng đồng đã cũ, Số sê-ri: R58J35A6A3D lắp sim số 0344975593.
+ Trả lại cho chị Bùi Thị Hồng P: 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, số 0101802, mang tên BÙI QUANG Q, biển số kiểm soát 19K4-5849 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SURUKI, màu sơn xanh, số máy E432VN153584; số khung BE49L040153584, gắn biển kiểm soát 19K4-5849.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C1 và anh Ngô Văn D vắng mặt. Tuy nhiên, ông C1 và anh D đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra vụ án. Xét thấy sự vắng mặt của ông D và anh C1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn C1 và anh Ngô Văn D.
[3]. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa liên quan, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 03/12/2024, Nguyễn Văn C, sinh năm 1962, ở khu H, thị trấn Đ, huyện Đ đã đồng ý bán ma túy và nhận của Trần Đăng K2, sinh năm 1982, ở khu T, thị trấn Đ, huyện Đ số tiền 200.000 đồng và Ngô Văn D, sinh năm 1987, ở khu F (S), thị trấn Đ), huyện Đ số tiền 400.000 đồng. Cùng ngày, sau khi mua được ma túy, C và K2 đi về qua cầu K đến địa phận huyện Đ, C sử dụng một phần ma túy và lấy một phần ma túy đưa cho K2 sử dụng. Sau đó trên đường về C đã đưa số ma túy còn lại cho K2 để K2 bán cho D tại đoạn đường tỉnh lộ 323, thuộc khu A, xã H, huyện Đ. Như vậy, K2 đã giúp sức cho C 01 bán trái phép chất ma túy cho Ngô Văn D vào ngày 03/12/2024. Ngày 17/12/2024, C đã bán trái phép chất ma túy cho D tại phía sau khu vực cửa hàng X1 thuộc khu H, thị trấn Đ, huyện Đ với số tiền 400.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 17/12/2024, tại khu T, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn C còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,758 gam, loại Heroine nhằm mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Văn C bán trái phép chất ma túy cho Trần Đăng K2 và Ngô Văn D vào ngày 03/12/2024; 01 bán trái phép chất ma túy cho Ngô Văn D vào ngày 17/12/2024 và tàng trữ 0,758 gam Heroine nhằm mục đích để bán cho người khác nên Nguyễn Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Hành vi của Trần Đăng K2 là đồng phạm với Nguyễn Văn C, K2 đã giúp sức cho C 01 lần bán trái phép chất ma túy cho Ngô Văn D vào ngày 03/12/2024 nên Trần Đăng K2 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, các bị cáo nhận thức được hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật nên các bị cáo không tranh luận và bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và bị cáo Trần Đăng K2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên”.
[4]. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đăng K2 thuộc trường hợp nghiêm trọng và bị cáo Nguyễn Văn C thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phâm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay đang gây nhức nhối trong dư luận nhân dân và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Khi thực hiện hành vi, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi do các bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời cũng nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
[5]. Về nhân thân:
Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo Nguyễn Văn C và Trần Đăng K2 đều có nhân thân xấu. Bị cáo Chung đã 01 bị xét xử về tội: “Đánh bạc”, xử phạt 6.000.000 đồng, đã chấp hành xong, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo K2 đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với thời gian 4,5 tháng, đã chấp hành xong.
[6]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo Chung, K2 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Chung đã tự khai ra hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Đăng K2 và Ngô Văn D vào ngày 03/12/2024 và ngày 17/12/2024; bố đẻ bị cáo C là ông Trần Văn V là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo K2 có bố đẻ là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[7]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, các bị cáo làm lao động tự do, không có chức vụ và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Ngày 14/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả cho ông Nguyễn Văn C1: 01 Giấy phép lái xe, số [...], mang tên Nguyễn Văn C1; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moning, đã qua sử dụng, số khung RNYSA2432BC021482, số máy: G4HG BP005787, gắn biển kiểm soát 99A-011.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 032756, mang tên Nguyễn Đức Đ, đăng ký biển kiểm soát 99A-011.06; 01 Giấy chứng nhận kiểm định, số 1248376, biển kiểm soát đăng ký: 99A-011.06. Xét thấy, ông C1 không biết việc C đi mua ma túy để bán cho người khác và C cũng không nói cho ông C1 biết là đi mua ma túy để bán cho người khác. Chiếc xe ô tô trên là tài sản hợp pháp của ông C1 mua của một người không quen biết ở tỉnh Tuyên Quang. Ông Nguyễn Đức Đ cũng xác nhận đã bán chiếc xe ô tô trên cho một người không quen biết ở tỉnh Tuyên Quang. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho ông C1 là phù hợp.
(Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 22/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ)
- Đối với: 0,641 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau khi giám định, đựng trong 01 túi niêm phong mẫu Mã số: PS3 2137085, Số: 1712/KL-KTHS của Phòng K4 Công an tỉnh P là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 sim số 0869.175.938 của bị cáo Nguyễn Văn C; 01 sim số 0368395065 của bị cáo Trần Đăng K2 đều sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy 5G, màu xanh, đã cũ, số IMEI1: 355240323327935, số IMEI2: 355240323327943 của Nguyễn Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, đã qua sử dụng cũ, màu ghi, Số sê-ri F17V8129HYFK của Trần Đăng K2 đều sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu bán nộp sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), Nguyễn Văn C có được từ việc mua bán trái phép ma túy cho Trần Đăng K2 và Ngô Văn D nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 sim số 0349584137 của Nguyễn Văn C, C không sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho C.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2, đã qua sử dụng cũ, Số sê-ri: R58J35A6A3D lắp sim số 0344975593 là tài sản hợp pháp của Ngô Văn D, D đã bị xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho D.
- Đối với: 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, số 0101802, mang tên Bùi Quang Q, biển số kiểm soát 19K4-5849 và 01 xe mô tô nhãn hiệu SURUKI, đã cũ, màu sơn xanh, kh ông có g ương chiếu hậu, không lắp y ếm xe, số máy E432VN153584; số khung BE49L040153584, gắn biển kiểm soát 19K4-5849, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Hồng P, chị P không biết bị cáo Trần Đăng K2 sử dụng để đi mua bán ma túy nên cần trả lại cho chị P.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ và C2 cụ Thi hành án dân sự huyện Đ)
[11]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s, x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Đăng K2.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Đăng K2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/12/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Đăng K2 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 19/12/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Xác nhận: Ngày 14/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã trả cho ông Nguyễn Văn C1: 01 Giấy phép lái xe, số [...], mang tên Nguyễn Văn C1; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia Moning, đã qua sử dụng, số khung RNYSA2432BC021482, số máy: G4HG BP005787, gắn biển kiểm soát 99A-011.06; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 032756, mang tên Nguyễn Đức Đ, đăng ký biển kiểm soát 99A-011.06; 01 Giấy chứng nhận kiểm định, số 1248376, biển kiểm soát đăng ký: 99A-011.06.
(Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 22/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ)
- Tịch thu tiêu hủy: 0,641 gam ma túy, loại Heroin còn lại sau khi giám định, đựng trong 01 túi niêm phong mẫu Mã số: PS3 2137085, Số: 1712/KL-KTHS của Phòng K4 Công an tỉnh P; 01 sim số 0869.175.938 của bị cáo Nguyễn Văn C; 01 sim số 0368395065 của bị cáo Trần Đăng K2.
- Tịch thu bán nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy 5G, màu xanh, đã cũ, số IMEI1: 355240323327935, số IMEI2: 355240323327943, không mở được mã pin của máy của Nguyễn Văn C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, đã cũ, màu ghi, Số sê-ri F17V8129HYFK của Trần Đăng K2.
- Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) của bị cáo Nguyễn Văn C.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn C 01 sim số 0349584137.
- Trả lại cho anh Ngô Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J2, màu vàng đồng, đã cũ, Số sê-ri: R58J35A6A3D, lắp sim số 0344975593.
- Trả lại chị Bùi Thị Hồng P: 01 Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, số 0101802, mang tên Bùi Quang Q, biển số kiểm soát 19K4-5849 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Suruki, màu sơn xanh, không có gương chiếu hậu bên phải, không lắp yếm xe, số máy E432VN153584; số khung BE49L040153584, gắn biển kiểm soát 19K4-5849, xe đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ và C2 cụ Thi hành án dân sự huyện Đ)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Trần Đăng K2 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có QL, NV liên quan; - VKSND huyện Đoan Hùng; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ; - Chi cục THADS huyện Đoan Hùng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Yến |
Bản án số 07/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 07/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình sự mua bán ma túy
